Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

Zeus trừng phạt Promete

PRÔMÊTÊ


...o0o...

Bầu trời soi bóng trong nước và nước đầy cá. Chim bay trên trời và gia súc gặm cỏ trên đồng. Nhưng không có ai chăn gia súc, không ai bắt cá và không ai nghe chim hót. Trên mặt đất không có người.
Prômêtê, hậu duệ của gia đình những người Titan thần thánh, buồn bã lang thang trên mặt đất, không tìm ra những sinh vật sống, đi đứng như anh và mặt mày giống như anh. Anh chỉ thấy từ đất sét mọc lên cỏ, cây cối, thấy mưa to rơi xuống đất. Nước mưa, giữ cho thiên nhiên tươi tốt và chỗ nào không mưa thì cây lớn, cây bụi chết khô, nhường chỗ cho sa mạc.
Khi prômêtê phát hiện thấy sức mạnh của đất và nước anh trộn đất sét với nước mưa, nặn ra hình người đầu tiên. Hình dáng ấy giống những vị thần thánh. Panla Atêna, nữ thần khôn ngoan và trí tuệ truyền một linh hồn vào hình dáng bất động: đất sét xám trở nên hồng hào, trong người một quả tim bắt đầu đập và chân tay trước nay bất động bắt đầu cử động. Prômêtê đưa xuống mặt đất con người đầu tiên như thế đấy.
Một thời gian lâu, loài người không biết làm gì với linh hồn, quà tặng của Panla Atêna. Họ sống như những đứa trẻ. Họ thấy mà không nhận biết được, nghe mà không hiểu, bước đi trên mặt đất như trong mộng. Họ không biết nung gạch, đốn gỗ làm nhà. Họ dụi mặt đất và phía dưới mặt đất, ở trong những xó của hang động như đàn kiến. Thậm chí cũng chẳng biết mùa hạ tiếp nối mùa xuân và mùa thu đến sau mùa hạ.
Prômêtê bèn xuống mặt đất với loài người, dạy họ làm nhà, đọc, viết, đếm và hiểu biết thiên nhiên. Anh chỉ cho họ buộc loài vật vào xe như thế nào để khỏi mang gánh nặng trên lưng. Anh hướng dẫn nghệ thuật đóng tàu, giải thích những cánh buồm đỡ công cho người chèo ra sao. Anh đưa họ vào sâu trong đất tìm kiếm những kho tàng ẩn náu. Công việc vất vả của thợ mỏ khai thác từ lòng đất ra sắt, đồng, bạc, vàng.
Trước đó loài người không biết thuốc men, không phân biệt được cái gì lợi cái gì hại; Prômêtê trình bày cho họ cách làm các vị cao, vị thuốc. Anh dạy mọi nghệ thuật cho loài người; họ hết sức ngạc nhiên và khao khát học tập tất cả.
Các vị thần thánh, quần tụ trên ngọn núi thiêng Ôlympơ, nghi ngờ theo dõi thế hệ người này trên mặt đất mà nhờ có Prômêtê, đã học tập lao động, khoa học nghê thuật - Dớt, chúa tể các vị thần ngày càng cau mày lại. Ông gọi Prômêtê và nói:
- Ngươi dạy loài người làm việc và suy nghĩ nhưng ngươi ít dạy cho họ tôn sùng thần thánh. Ngươi nên biết đất đai phì nhiêu, sự thịnh vượng hoặc tai họa tùy thuộc vào các vị thần thánh. Thánh thần quyết định số mệnh của họ. Bản thân ta, khi nào muốn, ta nổi sấm sét xuống. Ngươi hãy trở lại với loài người, bảo họ hiến dâng lòng hy sinh cho chúng ta, nếu không chúng ta giáng phẫn nộ xuống đầu họ.
Prômêtê trả lời:
- Loài người sẽ hiến dâng lòng hy sinh cho thần thánh, nhưng kính thưa thần Dớt, bản thân Người phải xuống chọn lựa cái gì họ phải hy sinh.
Prômêtê giết một con bò mộng. giấu thịt vào da con bò và đặt bộ lòng lên trên. Anh dồn xương vào một đống khác, phủ mỡ che kín xương; đống xương phủ mỡ lợn lớn hơn và có vẻ ngon lành hơn. Khi làm xong, thần Dớt ngửi thấy mùi vị thơm ngon của vật hiến sinh đã chuẩn bị bèn xuống mặt đất.
Prômêtê gặp Dớt trình bày:
- Kính thưa thần Dớt vĩ đại, Người hãy chọn phần Người ưa thích. Phần mà Người, vị chúa tể các vị thần đã chọn sẽ là phần loài người tiếp tục hiến dâng cho Người.
Dớt biết rõ Prômêtê tìm cách đánh lừa ông. Tuy thế ông không tỏ ra giận dữ mà quả quyết chọn đống ánh lên vì mỡ. Miệng tươi cười, Prômêtê bước tới, gạt lớp mỡ: những khúc xương trần trụi hiện ra. Khi anh cất tấm da bò ở đống kia thì toàn thịt tươi bay mùi dễ chịu. Từ ngày đó, loài người hiến dâng cho thần thánh mỡ và xương, giữ thịt lại cho mình.
hần Dớt không để hành động liều lĩnh đó tránh khỏi trừng phạt: ông quyết định không cho loài người có lửa và, nếu phần tốt nhất - thịt bò - dành cho họ thì từ nay loài người phải ăn thịt sống.
Dớt ra lệnh cho mây làm mưa tắt hết mọi đám lửa và gió thôi tung tro nóng phân tán ra biển. Như vậy là loài người mất lửa, cần thiết cho công việc và cuộc sống: đến bánh họ cũng không nấu chín được. Các lò rèn xếp bỏ, những xưởng thợ vắng người. Khi ban ngày trời lạnh, ban đêm băng giá, loài người không biết làm cách nào để sưởi ấm.
Prômêtê thấy tai họa giáng xuống, thương xót và không bỏ rơi họ. Biết được trong lâu đài Dớt có một ngọn lửa tỏa sáng đêm ngày, ban đêm anh trèo lên ngọn Ôlympơ luồn vào lâu đài linh thiêng của vị thần chúa tể. Anh kín đáo, nhẹ nhàng lấy một ít lửa trong bếp lò của Dớt giấu vào trong chiếc gậy rỗng. Rồi vui mừng, anh trở lại với loài người cùng vật quí đánh cắp được.
Ngọn lửa lại bùng lên trong các nhà ở và xưởng thợ, mùi thơm món ăn nấu chín, thịt chiên bay lên trên vào mũi các vị thần. Dớt nhìn xuống thấy khói tỏa trên các bếp lò. Ông giận điên người, hình dung ngay một hình phạt mới. Ông cho gọi Hêphaitốt, ông thần thọt nghệ sĩ nổi danh sống dưới chân ngọn núi lửa và có một xưởng thợ hạ lệnh làm một bức tượng đàn bà thật đẹp...
Hêphaitốt vâng lời, chẳng bao lâu Dớt có thể ngắm nghía một sắc đẹp không ai mơ có được. Nữ thần Atêna cho cô gái một tám voan đẹp, bộ quần áo trắng ngần và chiếc thắt lưng tuyệt mỹ. Nữ thần sắc đẹp Aphrôđit cho nét duyên dáng thần tiên còn Hécmet, người phát ngôn của các vị thần tặng cô lời văn hoa sống động và giọng nói tuyệt vời được trang bị mọi quà quý - và giao cho một chiếc hộp bằng vàng. Sau đó Hécmet dẫn Păngđo xuống mặt đất, ở vào nhà Êpimêtê em của Prômêtê.
Prômêtê thường đã bảo em không được nhận quà gì của thần thánh nhưng trước sắc đẹp của Păngđo, Êpimêtê quên hết lời dặn dò và nhận nàng cùng chiếc hộp vàng vào nhà. Tò mò muốn biết các vị thần gửi gì cho anh trong chiếc hộp, anh đề nghị nàng mở nắp hộp, điều mà nàng sẵn lòng làm. Bệnh tật, Đau đớn, Khổ cực và Nguy biến thoát ra khỏi chiếc hộp rít lên, gầm gừ, rên rỉ. Những tai ương đó bay lên đến các nhà, tỏa ra khắp mọi nơi từ trước đến nay không biết đến những điều tệ hại. Bản thân Păngđo cũng sợ hãi, khép ngay nắp hộp. Những gì là tai ương ra hết và chỉ một mình Hy vọng còn lại trong đó: Bệnh tật và Nguy biến chèn ép nó xuống đáy hộp nên chỉ một chút thoát đươc ra ngoài.
Đói nghèo và Bệnh tật lan tràn các nhà ở và Cái chết theo gót chúng. Đau đớn, Lo âu quấy rầy loài người trong giấc ngủ: ác mộng bóp nghẹt họ. Riêng Hy vọng không lan rộng vì gần như toàn bộ bị nhốt trong hộp của Păngđo.
Cơn giận dữ của thần Dớt cũng dội xuống Prômêtê. Chúa tể các vị thần thánh cử Hêphaitốt và tùy tùng trói anh vào một tảng đá cao nhất trên núi Côcadơ bằng những dây xích nặng và chắc chắn. Buộc phải vâng lời. Hêphaitốt trói Prômêtê đến mức không cựa được.
Prômêtê bị treo lơ lững giữa trời, đất, đứng trên những vực thẳm đầy mây mù nhưng không khuất phục và van xin lòng thương của Dớt.
Khi Dớt biết Prômêtê không xin lỗi, kiêu hãnh chịu đựng số phận, ông cho một con diều hâu khổng lồ đến Côcadơ. Hàng ngày con diều hâu phải rút gan của Prômêtê ra ăn. Đêm đến lá gan mọc lại và hôm sau con diều hâu tiếp tục hành hạ. Như vậy Prômêtê bị làm đau khổ suốt đời. Nhiều năm trôi qua nhưng anh không chịu qui phục.
Sau bao thế kỉ Prômêtê đang chịu hành hạ và cô đơn, Hêraklét, con trai Dớt nhận thấy người anh hùng bị trói trên núi Côcadơ. Đi hái những quả táo trong vườn Hêtpêridet, anh đi qua đó lúc con diều hâu đến ăn thịt.
Hêraklet đặt chùy xuống, giương cung và bắn một phát giết chết con vật ăn mồi. Rồi anh chặt đứt dây xích, trả lại tự do cho người bị cầm tù. Để xoa dịu Dớt và tiếp tục chịu đựng hình phạt, Prômêtê phải mang một vòng sắt có một tảng đá Côcadơ. Anh " bị xiềng" như vậy vĩnh viễn theo ý muốn của vị thần chúa tể.
Từ ngày đó loài người đeo vòng trang sức bằng đá để nhớ đến nỗi gian khổ của Prômêtê. Đến nay họ vấn đeo như vậy tuy từ lâu đã quên hẳn Prômêtê, người không chịu qui phục thần thánh và đứng về phía loài người.

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Lá bùa hộ mệnh - Puskin ( Văn Khôi dịch )

Nơi biển ngày đêm sóng dạt dào
Bọt tung trắng xoá trùm bờ cao
Vằng vặc trăng ngân soi ấm áp
Màn đêm yên ả ru ngọt ngào
Nơi trong cung cấm chúa dân Hồi
Đêm ngày đùa cợt gái xinh tươi
Một ngày cánh tay mềm nàng tiên nữ
Lá bùa hộ mệnh đã trao tôi

Nàng kề sát môi, giọng dịu êm:
"Anh gắng giữ gìn lá bùa em
Bởi tình nồng cháy em trao đó
Cùng phép nhiệm màu xưa bí truyền
Bùa em chẳng phù anh thoát được
Bão táp, phong ba, nấm mồ sâu
Đầu anh đòn thù kia hiểm độc
Chẳng thể chở che tránh nổi đâu

Bùa em không thể thoả lòng mong
Vàng bạc châu báu của phương Đông
Chẳng ban cho anh đàn đệ tử
Phục tùng ngoan ngoãn tháng năm ròng
Bùa em không thể chắp cánh bay
Đưa anh thoát chốn sâu ải đày
Từ Nam về lại phương trời Bắc
Ngã vào thân thương những vòng tay

Nhưng nếu ả nào mắt hiểm thâm
Khiến anh mê mẩn tận thâm tâm
Kề làn môi nồng hôn đắm đuối
Mà tình trong tim vẫn lặng câm -
Thì anh yêu dấu, mảnh bùa em
Cứu anh thoát khỏi tình dối gian
Khỏi phút đắm say cùng tội lỗi
Khỏi vết thương lòng, khỏi lãng quên

Gửi Chaadaev - К Чаадаеву - Puskin ( Thúy Toàn dịch )

Sự bịp bợm của tình, mơ, danh vọng
Mơn trớn ta chẳng được bao lâu
Những trò vui ngày thơ thoáng bóng,
Như mộng đêm, như sương sớm tan mau.

Nhưng hoài bão trong ta còn cháy rực,
Cả hồn ta náo nức chờ mong
Nóng lòng nghe tiếng gọi của núi sông
Sống quằn quại dưới chính quyền hung bạo.

Trong hy vọng giày vò ta trông ngóng
Những phút giây giải phóng thiêng liêng,
Như chàng trai si tình trẻ tuổi
Đợi phút giây hò hẹn trung thành.

Khi trong ta lửa tự do rực cháy,
Khi tim ta còn sống cho thanh danh.
Người bạn hỡi, hiến dâng cho Tổ quốc
Những ngọn triều kỳ diệu của lòng anh!

Hỡi đồng chí hãy vững lòng tin tưởng:
Sao hạnh phúc nguy nga rồi hiện sáng,
Cả nước Nga sẽ bừng tỉnh cơn mê,
Ngày mai đây hậu thế viết tên ta
Trên đống vụn của chính quyền độc đoán.

Tự do - Puskin ( Thúy Toàn dịch )

Hãy xéo đi, hãy xéo khuất mắt ta,
Hỡi nữ hoàng hèn yếu đảo Xiter!
Đâu nỗi kinh hoàng của đế vương thiên tử,
Đâu nàng đâu, hỡi nàng ca sĩ,
Hỡi nàng thơ kiêu hãnh của tự do?
Hãy tới gỡ hoa vinh dự khỏi đầu ta!
Tới đập tan cây đàn thơ ẻo lả!
Ta muốn ngợi ca tự do cho trần thế,
Ta muốn đập vào những tật xấu gian tham
Đang nghiếm nhiên ngự trị trên ngai vàng...

Nàng hãy chỉ dấu vết cũ vinh quang
Của con người Gôloa cao thượng,
Người mà nàng đã gợi những lời ca hùng tráng
Giữa những cơn bão tố kinh hoàng.
Bay run lên! Lũ chuyên quyền bạo chúa,
Lũ cháu con của số phận đa đoan!
Còn các anh em, đám nô lệ lầm than,
Hãy dũng cảm, lắng nghe và đứng dậy!

Hỡi tên vua chuyên quyền bạo ngược!
Ta căm ngươi, ngôi báu của ngươi,
Ta thấy trước với niềm vui cay độc
Cái chết của ngươi, của cháu con ngươi.
Thế gian sẽ thấy trên trán tên bạo chúa
Dấu vết của người đời nguyền rủa,
Ngươi là mối kinh hoàng trên cõi thế gian,
Lời nguyền rủa của Chúa Trời trên mặt đất.

...
Và giờ đây các ngươi ghi nhớ lấy:
Dù tội tình hay khao thưởng đền bù,
Dù bệ thờ hay máu thảm ngục tù
Đều không phải bức tường thành vững chắc!
Ngươi hãy là kẻ đầu tiên cúi mặt
Dưới bóng thần của luật pháp công minh,
Tự do nhân dân và cuộc sống thanh bình
Sẽ là kẻ đứng canh muôn đời bên ngôi báu.

Làng - Puskin

Làng
Ta chào ngươi,hỡi mảnh đất cô đơn
Nơi nương tựa của bình an,lao động
Nơi cảm hứng chảy dạt dào lai láng
Nơi đời trôi giữa hạnh phúc lãng khuây.
Ta của ngươi - ta đã trở về đây
Từ bỏ chốn thượng lưu bệnh hoạn
Những cuộc vui chơi xa hoa chè chén
Trở về đây với tiếng lá hàng sồi
Với ruộng đồng bằng lặng thảnh thơi
Người bạn gái hiền giúp cho ta mộng tưởng
Ta của ngươi - yêu biết mấy thửa vườn xanh thắm
Với muôn hoa và bóng mát dịu dàng
Đồng cỏ xanh những đụn rạ ngát hương
Lạch suối trong giữa bụi bờ róc rách
Trước mắt ta kìa bao bức tranh linh hoạt
Đây bao la hai hồ nước trong xanh
Nơi đôi khi thuyền cá thoáng cánh buồm !
Sau hồ nước là đồi và ruộng đồng ngang dọc
Xa xa nữa những mái lều lác đác
Bò thẩn thơ bên bãi vực phì nhiêu
Những sân phơi mù bụi,cối xay gió cánh diều !
Chốn chốn làm ăn đủ đầy sung túc
Ta về đây thoát khỏi thế đời câu thúc
Học tìm tòi hạnh phúc trong chân tình
Với tâm hồn tự do ta theo phép nước luật hình
Đem ân tình đáp lại lời e dè cầu khẩn
Không còn bận tai nghe bọn ngu lảm nhảm
Chẳng tỵ hiềm với chức phận đứa gian thần
Hay thằng ngu kia trong uy vũ xênh xang.

Hỡi các đấng thần linh,tôi xin hỏi !
Giữa nơi đây u tịch tôn nghiêm
Tiếng huyền diệu nghe thấy rõ thêm
Tiếng nói ấy xua tan chây lười ác mộng
Khơi ngọn lửa hăng say lao động
Nguồn cảm linh sáng tạo của các người
Trong lòng ta đọng lại chín muồi.

Nhưng nơi đây có một điều khủng khiếp
Làm lòng ta se lại xót xa
Giữa ruộng đồng đồi núi nở hoa
Người bạn của nhân quần buồn rầu nhận thấy
Cảnh dân tình u tối lầm than
Cả một bầy thống trị dã man
Không nhân nghĩa,không tình,không lý
Mặc nước mắt rơi,mặc lời rên rỉ
Chúng sinh ra để hủy hoại sinh linh
Dùng đòn roi áp bức chiếm cho mình
Cả lao động,thời gian,của cải
Theo luống cày còng lưng tê tái
Dưới làn roi khổ nhục ê chề
Đám nông nô xơ xác chân kéo lê
Trên luống đất bọn chủ nô tàn ác
Ách nặng nề kéo lê cho tới chết
Không dám nuôi chút hoài bão ước mơ
Những cô gái nơi đây trinh tiết ngây thơ
Bọn quỷ đem mua vui trong chốc lát
Chốn tựa nương của cha già khi tuổi hạc
Những người con trai,bạn hữu của ruộng đồng
Phải bỏ cửa nhà lũ lượt đến cho đông
Đám đầy tớ tôi đòi phờ phạc
Chao ôi,giá tiếng thơ tôi rung động trước lòng người ?
Sao tim tôi vẫn cháy một nhiệt tình vô bổ
Sao trời không cho tôi tài hùng biện để làm nên dông tố ?

Các bạn ơi,tôi có thể thấy được chăng !
Ngày nhân dân cởi tròng thoát ách
Cảnh nô lệ theo lệnh vua xóa sạch
Và bình minh rực rỡ của tự do
Có chiếu rọi trên trời tổ quốc ?

1819

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Văn học phương Tây - Chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực

Chương 1.          CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN TÂY ÂU

1  Văn học Pháp
1.1  Chủ nghiã cổ điển “mới” và âm vang văn học cách mạng tư sản
Trong những năm đầu của Cách mạng Pháp (1789-1794), chủ nghĩa cổ điển lại xuất hiện và ngự trị nền văn học. Dòng văn học này tiếp tục khuynh hướng quay về nghệ thuật cổ đại và có nhiều nét chung với chủ nghĩa cổ điển trước cách mạng. Nhưng về nội dung ý thức hệ, nó hoàn toàn khác biệt.
Chủ nghĩa cổ điển “mới”sau Cách mạng phản ánh cuộc đấu tranh của đẳng cấp thứ ba nhằm đạt được tự do chính trị và quyền bình đẳng trong xã hội mới sau khi đã lật đổ giai cấp phong kiến quí tộc. Nó miêu tả những thắng lợi của cách mạng và niềm hân hoan của nhân dân đặt lợi ích chung trên lợi ích riêng tư. Xã hội tư sản mới ra đời cũng cần một chủ nghĩa anh hùng để biểu dương và củng cố chế độ mới. Nhưng những nhân vật tư sản cũng sớm bộc lộ những mặt trái của họ nên nhà văn muốn dựa vào những hình tượng cổ đại. “Họ tìm thấy trong những truyền thống cổ điển của nền cộng hoà La Mã những lí tưởng về hình thức nghệ thuật, những ảo tưởng mà họ cần thay thế cho những nội dung hạn chế tư sản nhằm duy trì sự hân hoan của tấn bi kịch lớn lao” (K.Marx).
Từ đó hình thành các thể loại đa dạng như bi kịch cổ điển, tụng ca, trào phúng,  bài ca cách mạng.
Cách mạng đã đóng cửa các phòng khách thính văn nghệ (salon), phát triển báo chí để tạo nên dư luận công chúng mới, mở rộng diễn đàn cho các cuộc tranh luận với thể loại mới : văn hùng biện chính trị, xuất hiện một số nhà hùng biện tài năng như Mirabeau.
1.2 Văn học lãng mạn Pháp phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong khoảng giữa hai cuộc Cách mạng (1789 và 1848).  Ðúng như nhận định của Marx, khuynh hướng lãng mạn là  sự phản ứng đầu tiên đối với Cách mạng Pháp và tư tưởng Ánh sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó .
Văn học lãng mạn đã kế thừa các nhân tố sau :
Chủ nghĩa tình cảm, một tư trào văn chương thế kỷ 18 ra đời nhằm cân đối với tính lý trí của văn học Ánh sáng 18 vốn nặng về lý trí.
Về triêt  học, chủ nghĩa lãng mạn chủ yếu mang tính duy tâm chủ quan. Đặc biệt văn học lãng mạn chịu ảnh hưởng khá sâu của  học thuyết “chủ nghĩa xã hội không tưởng“ của Owen và Furier.
Về nghệ thuật, thiên về tính trữ tình yêu thiên nhiên như một phương thức giải thoát  thư giãn, phản ứng với hiện thực xã hội ngột ngạt bon chen.
Văn học lãng mạn vẫn có chú ý ít nhiều đến hiện thực đau khổ của người lao động.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật chưa chú ý xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, nó là cá nhân dị biệt, ngẫu nhiên, bất chấp sự vận động của hoàn cảnh khách quan.
Tính chất nhân đạo tràn ngập các tác phẩm lãng mạn.
    Các tác giả tiêu biểu
Bà De Stan (1767-1817)- nhà tiểu thuyết
Ở đầu thế kỉ, bà là nhà văn góp phần định hướng cho nền văn học mới về mặt lí luận. Bà đã khẳng định những ưu thế của xúc cảm trong văn học và mở ra chân trơi của sự giải phóng văn học khỏi những qui phạm của chủ nghĩa cổ điển. Bà đã mở rộng ý niệm về cái đẹp khi quan tâm đến những kiệt tác văn chương của nước Pháp và các dân tộc khác. Bà có khả năng kết hợp sự hiểu biết và sáng tạo khi giới thiệu văn học Ðức với công chúng Pháp qua những tác phẩm lí luận và hai cuốn tiểu thuyết lãng mạn “Delphin” và “Corin hay là Italia”, chỉ ra nội dung tình cảm cao thượng và chất trữ tình tràn trề, sống động của nó. Trong một bức thư gửi W.Goethe, nhà văn Schiller viết : “không có gì là vay mượn, sai lạc và yếu đuối ở bà Stan, bà là tinh thần Pháp đầy trí tuệ và thuần khiết. Bà muốn soi sáng, thâm nhập, đo lường tất cả. Bà không chấp nhận một điều gì tối tăm và tắc tị. Bà kinh sợ chủ nghĩa thần bí và sự mê tín”.
Chateaubriand (1768-1848) – nhà văn
Nhà văn lớn thứ hai mở đầu chủ nghĩa lãng mạn là Chateaubriand.
Ông là nhà văn tiêu biểu của khuynh hướng  lãng mạn tiêu cực ở Pháp. Xuất thân dòng dõi quí tộc, rơi đất nước sau cách mạng và năm 1791 ông đến Bắc Mĩ với danh nghĩa tham gia một cuộc thám hiểm khoa học. Năm 1792 ông trở về nước, tình nguyện gia nhập quân bảo hoàng chống lại cách mạng. Bị thương ở Tiongvin, ông say sưa trú ngụ ở nước Anh. Ông đối lập với Ðế chế I vì họ không chấp nhận khuynh hướng chính trị quá khích và bảo thủ của ông. Thời Trung hưng, ông được cử làm sứ thần ở London và một thời gian làm bộ trưởng ngoại giao. Thực hiện chính sách phản động của hoàng tộc Bourbon, năm 1823 ông chủ trương đàn áp cách mạng Tây ban nha. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm năm 1811 và rời bỏ chính trường sau Cách mạng tháng Bảy 1830.
Năm 1787, Chateaubriand đã xuất bản ở London tác phẩm Tiểu luận lịch sử chính trị và đạo đức bàn về những cuộc cách mạng cũ và mới, nhận thức trong những mối quan hệ với Cách mạng Pháp. Trong tác phẩm này, ông chỉ ra ảnh hưởng của các triết gia thế kỉ 18 đối với bản thân ông. Ông ca ngợi nhận thức tự nhiên của Rousseau và vận dụng tư tưởng duy lí để chống lại niềm tin Thiên chúa giáo. Thế nhưng ông vẫn thù địch với Cách mạng, không tin vào sự tiến hoá của lịch sử nhân loại như các nhà tư tưởng Ánh Sáng. Ông bảo vệ tàn tích của chế độ phong kiến và hồi phục cảm hứng tín ngưỡng trong nhiều tác phẩm: Atala (1801). Thần lực sáng tạo của đạo Gia tô (1802), Những người tử vì đạo (1809) và đặc biệt Reunet (1802) ông miêu tả chàng quí tộc Reunet bỏ nước Pháp sang châu Mĩ sống với bộ lạc da đỏ và thích nghi với đời sống cộng hoà nguyên thuỷ.
Ông ca ngợi đạo Gia tô: “Trong tất cả những tôn giáo đã tồn tại thì đạo Gia tô thơ mộng nhất, nhân đạo nhất, hoà hợp nhất với tự do, nghệ thuật và văn chương; tất cả thế giới đều cần đến nó, từ công việc nông trang cho đến những khoa học trừu tượng, từ những nhà cứu tế cho kẻ khốn cùng đến những cung điện do Mikenlangelo xây dựng và Raphael trang hoàng”. Ông đối lập nền nghệ thuật Thiên chúa giáo với nghệ thuật cổ đại, cho rằng nghệ thuật thiên chúa  của thời trung đại phong kiến đã thể hiện sự xung đột giữa khát vọng tinh thần và bản năng con người, đã “thuần khiết hoá” con người. Với giọng văn hài hoà, du dương đầy nhạc điệu, ông thể hiện căn bệnh của thời đại và nỗi buồn nản do bao điều hi vọng tan vỡ của một thế hệ quí tộc và tiểu tư sản bảo thủ trong những tiểu thuyết Atala, Reunet. Atala tiêu biểu cho cuộc đấu tranh giữa niềm tin tôn giáo và dục vọng trần tục. Atala day dứt đau khổ vì vừa yêu Sacta vừa muốn giữ trọn lời thề hiến dâng cuộc đời cho Chúa.
 Chateaubriand là nhà văn lãng mạn có ảnh hưởng rộng rãi ở Pháp và châu Âu thế kỉ 19 khi ông khai thác sâu cái tôi cô đơn qua các hình tượng sống động và những trang văn xuôi đổi mới, lưu loát và đầy chất thơ.
Từ những năm 20, phong trào văn học lãng mạn ở Pháp đã phát triển mạnh mẽ với các nhà văn nổi tiếng: Lamartine, Vigny, Hugo, G.Sand và Musset.
Anfonce de Lamartine (1790-1869) – nhà thơ
Là nhà thơ tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Xuất thân trong gia đình quí tộc sa sút, Lamartine sống thời thơ ấu ỏ trại ấp của cha, lớn lên đi học trường trung học công giáo. Dưới thời Trung hưng ông gia nhập quân đội một thời gian ngắn, sau đó làm lãnh sự ở Italia. Mối tình với bà July ở Paris, nhưng một năm sau July chết vì bệnh. Lamartine làm những tập thơ trữ tình nổi tiếng như: Trầm tư (1802), Trầm tư mới (1823), Những hài hoà (1830). Các tác phẩm thơ bộc lộ tâm tình của Lamartine qua các thời kì khác nhau: nỗi đau đớn trước cái chết của người yêu trong các bài thơ Bên hồ, Sự bất tử, nỗi cô đơn trong bài “Một mình”, nỗi nhớ khôn nguôi trong “Chiều kỉ niệm”, “Thung lũng nhỏ”, “Mùa thu”, niềm tin tôn giáo trong Niềm tin, Tuần lễ thánh, Chúa, Lời cầu nguyện. Lamartine là người khai phá một giọng thơ ca mới, nhà thơ trữ tình xuất sắc về thiên nhiên gắn với tâm tình con người, là sự gặp gỡ những tâm hồn đồng điệu.
Sau Cách mạng tháng Bảy năm 1830, Lamartine tham gia các hoạt động chính trị với tư cách là đại biểu Viện lập pháp. Ðến cách mạng tháng Hai 1848, ông đứng đầu nhà nước của phái tư sản ôn hoà. Sự nghiệp chính trị của ông kết thúc sau cuộc Cách mạng tháng Sáu 1848 khi giai cấp tư sản phản động đàn áp đẫm máu quần chúng khởi nghiã. Về già, ông còn làm việc vất vả để trả nợ. Tác phẩm Giojelain (1836) là một trường ca hai ngàn câu thơ nhằm tái hiện số phận kịch sử của toàn nhân loại. Nhân vật trữ tình Giojelain tượng trưng cho sự đấu tranh của tâm hồn con người vươn tới Thượng đế bằng sự thanh khiết hoá trong nỗi đau khổ.
Alfred De Vigny (1797-1863) – nhà thơ
Xuất thân trong một gia đình quí tộc phá sản vì Cách mạng. Chế độ Trung hưng đem lại hy vọng ông có thể tiến thân trong quân đội. Là sĩ quan có nhiệm vụ canh giữ ở biên giới, chẳng bao lâu ông xin từ chức vì không còn khát vọng chinh chiến như thời Napoleon. Vigny bắt đầu sáng tác từ 1820 và dần dần nổi tiếng với các tập thơ Moise, Eloa, Saint Mac, Stenle, Saterton, Daphnee, Vigny hướng về thời đại cổ xưa tìm đề tài như thơ ông đã mô tả số phận nhà quí tộc trẻ tuổi Richielieur hoặc các bậc tiên tri trong Kinh thánh. Phản ứng với thắng lợi của Cách mạng, rồi lại bất mãn với chế độ Bourbon, ông đi tìm nhân vật trong quá khứ để thể hiện thái độ hoài nghi và bi quan. Suy tưởng về thân phận con người, ông cho rằng con người không thể tránh được định mệnh thần bí. Nhân vật của ông đều thất bại, ngã xuống như Saint Mac, cô đơn với thiên tài như Moise, đơn độc như Siva, chìm đắm trong tình yêu như Samson ”Nhà thơ thì cảm thấy thiên nhiên hoang vắng, lạnh lùng; Chúa thì câm, mù, điếc trước tiếng kêu của chúng sinh. Ai có cuộc sống cao thượng thì đau khổ nhiều”. Vigny đưa ta một triết lí thất vọng, ca ngợi sự nhẫn nhục và sự yêu thương, khắc kỉ, hư vô chủ nghĩa.
George Sand (1804-1876) – nhà tiểu thuyết
Tên thật của nữ văn sĩ là Aurore Dupin, xuất thân dân nghèo thành thị. Sớm mồi côi cha, Dupin được bà nội nuôi ăn học ở miền quê. Năm 18 tuổi, Dupin kết duyên với bá tước Davant nhưng cuộc sống bất hạnh. Tám năm sau li thân, bà về Paris theo nghề văn và nuôi hai con. Những tiểu thuyết thời trẻ như Indiana, Lelia, viết về đề tài tự do yêu đương, bênh vực nữ quyền, bình đẳng nam nữ trong hôn nhân và gia đình. Giai đoạn sau, bà viết những tiểu thuyết thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của người đau khổ, mô tả cuộc đấu tranh của họ chống áp bức bất công. Bà nhìn thấy sự vươn dậy của quần chúng lao động và phê phán ách nô dịch của đồng tiền tư bản chủ nghĩa. Tuy vậy nữ văn sĩ George Sand vẫn mơ ước giải hoà xung đột giai cấp bằng tình thương yêu.
Alfred De Musset (1810-1857) – nhà thơ
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn học và không phải trải qua khủng hoảng trước thắng lợi Cách mạng. Học xong trung học lúc 18 tuổi, Musset được giới thiệu vào Hội tao đàn do Hugo đứng đầu. Rất yêu văn chương và tự tin, Musset viết “Hoặc là tôi không viết gì, hoặc là Shakespeare hay Shelli”. Những vần thơ đầu tiên trong tập Truyện kể Tây ban nha và Italia được hoan nghênh nhiệt liệt. Thất vọng trước sự thắng thế của giai cấp tư sản phản động, thơ ông mất dần sự tươi vui, yêu đời, xuất hiện “mặc cảm về sự tước đoạt và sự lưu đày” của thân phận con người.
Năm 1831, ông làm công tác phê bình văn nghệ của tờ báo “Thời gian”. Cuộc tình duyên giữa Musset và nữ văn sĩ George Sand từ 1833 đến 1835 là cuộc tình duyên sóng gió và say đắm. Vì những bất đồng chính kiến, mối tình của họ đành dang dở sau những va chạm đau lòng. Musset viết bài thơ “Ðêm” nổi tiếng. Ðêm là người bạn trầm tư yên lặng nghe nhà thơ bộc bạch nỗi lòng (Các bài Ðêm tháng Năm, Ðêm tháng Tám, Ðêm tháng Mười, Ðêm tháng Chạp).
                 Con người đi học việc, sự đau khổ là bậc thầy
                 Chẳng ai tự biết mình nếu chẳng bao giờ đau khổ.
Musset còn viết tiểu thuyết Tâm sự của một đứa con thời đại, một số vở kịch (Ðêm Venise, Các cô thiếu nữ ước mơ gì ? )”
Là một trong những nhà văn lãng mạn tiến bộ đầu tiên, với “trái tim hào hiệp” Musset căm ghét chế độ chuyên chế và say mê tự do, suốt cuộc đời ông đi tìm lí tưởng và hạnh phúc chân chính nhưng không toại nguyện.
[Xem thêm Phụ lục về cuộc tình Musset – George Sand ở cuối tài liệu này]
Victor Hugo (1802-1885)

Là nhà văn, nhà thơ lãng mạn tiến bộ của nền văn học Pháp. Trong hơn sáu chục năm sáng tác, ông đã để lại hơn 20 vở kịch, 10 tiểu thuyết lớn và truyện ngắn, 15 tập thơ, hàng trăm bài văn chính luận, lí luận văn học, hàng nghìn bức thư tình và vài ba nghìn tranh vẽ. Sự phong phú về sáng tác của Hugo bắt nguồn từ mối liên hệ của nhà thơ với đời sống rộng rãi đa dạng của nhân dân, sự tham gia trực tiếp vào các phong trào chính trị và văn hoá tiến bộ.
Những tập thơ đầu tay Ðoản thi, Về phương Ðông đã rung lên niềm yêu thương của nhà thơ lãng mạn với quá khứ xa xăm hoặc những miền xa lạ. Những tập thơ trữ tình sau năm 1830 như Lá mùa thu,Tiếng hát buổi hoàng hôn, Tiếng nói bên trong, Tia sáng và bóng tối. Ông mở rộng suy tưởng về lẽ sống, về tình đồng loại, về nỗi đau khổ và sức mạnh của nhân dân. Ðến những năm 50, viết những tập thơ chiến đấu và hùng ca như “Trừng phạt, Chiêm ngưỡng, Truyền kì các thời đại” đã vươn lên tầm khái quát xã hội, ông nhìn ra hai nước Pháp:  một nước Pháp của nhân dân nghèo khổ và một của bọn giàu sang quyền quí. Tình yêu thương con người khốn khổ bị đoạ đày như được gieo mầm khắp các tập thơ để kết đọng thành những rung động âm vang qua các hình tượng lớn trong tiểu thuyết và kịch của Hugo. Sự kết hợp tài tình giữa các yếu tố nghệ thuật đó đã giao hoà tình thương cảm giữa tác phẩm và bạn đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ về tấm lòng nhân đạo bao la của nhà văn.
Hugo bênh vực người da đen cầm đầu nghĩa quân chống lại bọn thực dân da trắng và những luật lệ khắc nghiệt… Trong tác phẩm “Nhà thờ Đức bà Paris”, Hugo ca ngợi tình thương yêu của những con người bình thường: cô vũ nữ Esmeralda, anh gù kéo chuông Quazimodo. Tác phẩm “Những người khốn khổ” miêu tả những tình cảm đau lòng dưới đáy xã hội Pháp với cả chiều rộng và chiều sâu. Hugo hi vọng giải quyết ba vấn đề “Sự sa đoạ của đàn ông vì bán sức lao động, sự truỵ lạc của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗI của trẻ thơ vì tối tăm”. Những con người bị vùi dập hiện ra trong tác phẩm với những vẻ đẹp cao cả.  Những rung động đầy chất thơ và sự suy tưởng khát vọng xoá bỏ nỗI đau khổ của loài người.
Nhà văn tin rằng lòng thương yêu tuyệt đối có khả năng tiêu diệt cái ác và mang lại hạnh phúc cho những người khốn khổ.


Về phần văn học này ai muốn đọc thì vào link này của chú Giangnamlangtu nhé ;)

Click vào đây nào ;)


Mai thi xừ rồi , giờ plb mới học =)) , mai mà ko trúng tủ là tạch luôn. Chúc mọi ng` thi tốt ;)



GỢI Ý PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VÀ TÁC PHẨM Donkihote nhà quý tộc tài ba xứ Mantra

GỢI Ý PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VÀ TÁC PHẨM

1 / Bối cảnh đời sống văn học  Tây ban nha trước khi tác phẩm ra đời .

Hồi ấy sách tiểu thuyết hiệp sĩ tràn ngập thị trường Tây ban nha và Tây Âu, gây nhiều tác hại cho công chúng  và gây phẫn nộ đối với chính luậ . Những độc giả đam mê sách này bỏ công việc, hao tiền tốn của, vùi đầu vào những truyện hoang đường phi lí. Thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bị méo mó lệch lạc. Hình tượng hiệp sĩ giang hồ phóng đãng làm nảy sinh lối sống tai hại cho trậy tự an ninh xã hội. Vua Tây ban nha là Charler Cing ra lệnh cấm đọc loại tiểu thuyết đó nhưng ông vẫn lén lút đọc say mê. Các nhà tu hành cũng chẳng kém. Sách hiệp sĩ vẫn cứ lưu hành. Mãi đến khi cuốn Don Quijote xuất hiện thì loại tiểu thuyết hiệp sĩ mới mất hết độc giả. Dĩ độc trị độc !  Dư luận nồng nhiệt ca tụng cuốn tiểu thuyết châm biếm sâu sắc này. Lần đầu tiên trong đời nhà văn Cervantes đón nhận thành công và cảm thấy được an ủi cho cuộc đời vất vả chịu đựng bất công của mình.

2 /  Giá trị của tác phẩm Don Quijote
- Chôn vùi một thể tài tiểu thuyết hiệp sĩ trung cổ có hại cho công chúng .
-          Góp một cuốn tiểu thuyết mới với nội dung nhân đạo chủ nghĩa , bênh vực quyền sống  con người. Đằng sau một hài kịch là bi kịch của người nghệ sĩ chân chính trong cuộc Phục Hưng
-          Xây dựng tiểu thuyết hiện thực, Don Quijote miêu tả hiện thực đất nước TBN khổ cực, nhiễu nhương, rối loạn dưới sự cai trị của phong kiến và tăng lữ, lấp ló một bọn người khác sắp vào cuộc áp bức  con người- gã tư sản.
-          Biểu dương những tư tưởng mới mẻ tiến bộ của thời đại mới  khi trình bày những vấn đề tôn giáo, xã hội, nghệ thuật, tình yêu hạnh phúc.

3/  Phân tích nhân vật

Don Quijote:
Don Quijote vẽ ra một  kẻ ham mê đọc sách hiệp sĩ nên bị đầu độc, kẻ chỉ biết sách vở mà không biết gì đến hiện thực khách quan rồi sẽ thất bại.

Tiểt thuyết miêu tả sự không ăn khớp giữa lí tưởng hiệp sĩ trung cổ với hiện thực đang tư sản hóa .

Hai giá trị song song tồn tại trong tác phẩm: sự điên rồ của hiệp sĩ và những thất bại cay đắng liên miên của y diễn ra cùng với hiện thực đen tối của đất nước. Hình ảnh Don Quijote tượng trung cho đẳng cấp tăng lữ và giai cấp phong kiến cố sức lấy cái lí tưởng cũ kĩ ngoan cố chống lại tư tưởng Phục Hưng, như chàng hiệp sĩ Don Quijote vậy thôi  Một chi tiết tiêu biểu: kị sĩ vác giáo đánh cối xay gió, bị cối xay quật ngã. Kẻ vác giáo thất bại, còn lịch sử vẫn tiến lên (bánh xe lịch sử vẫn quay !) .

Nhà văn còn mượn nhân vật phát ngôn cho mình những tư tưởng mới , những suy ngẫm , quan niệm về chính tri, xã hội, tôn giáo, nghệ thuật, đặc biệt là nhân sinh quan. Hãy nghe nhân vật nói những lời tỉnh táo, xúc động, thâm thúy với bác giám mã Sancho sau những lúc mộng du :

Sancho à, tự do là một trong những của cải quí báu nhất mà thượng đế đã ban cho  con người  . Vì tự do cũng như vì danh dự , có thể và cần phải hi sinh cả tính mạng nữa .Ngược lại , làm mất tự do là điều tệ hại nhất trong những điều ác của  con người .Ta nói điều này , Sancho à, bởi vì hồi nãy bữa tiệc linh đình  dành cho chúng ta trong lâu đài nọ , trước những thức ăn ngon lành và những đồ uống chắc là phải dịu ngọt ta vẫn phải chịu dày vò vì đói khát . Vì ta không được ăn uống với sự tự do như khi ta ăn uống những thứ do tự tay ta làm ra. Kẻ nào ăn miếng bánh tự tay mình làm ra mà không phải mang ơn ai bố thí là kẻ sung sướng nhất trên đời.
Những quan niệm mới mẻ khác hẳn thói phong kiến hư danh khi khuyên nhủ Sancho lên đường nhận chức quan “tổng trấn” :
Sancho à , anh phải lấy nguồn gốc nghèo nàn của mình làm vinh dự . Đừng sợ nói cho mọi người biết rằng mình xuất thân nông dân . Khi người ta thấy mình không biết hổ thẹn thì chẳng ai bới móc làm gì . Thà rằng nghèo mà có đạo đức còn hơn là quyền quí mà gian ác

 Dòng máu thì có di truyền, còn việc làm tốt đẹp thì phải trau dồi mới có. Đạo đứ , tự bản thân nó có giá trị gấp bao lần dòng máu .
Quan niệm về giai cấp như thế trong thời đại phong kiến thật là mới mẻ, nhờ có thời Phục Hưng mới có được .

Yêu chính nghĩa và đạo đức là nét tính cách của hiệp sĩ Don Quijote. Trước khi lên đường ông đã tuyên bố như vậy và luôn luôn làm như vậy :

 Có những kẻ dấn bước trên con đường đầy tham vọng và vênh vang đắc ý . Lại có những kẻ dấn mình vào nẻo tối tăm của thói xu nịnh đê tiện , có kẻ đi trên con đường đạo đức giả , lừa bịp . . . Còn ta , ta đi theo ngôi sao định mệnh trên con đường gian nan chật vật của người hiệp sĩ lang thang . Ta khinh bỉ hết thảy mọi vinh hoa phù phiếm, nhưng ta không bao giờ vứt bỏ danh dự .

Hành động và lời nói của ông đi đôi với nhau , khi được viên quận công nhường chức cho, liền nhường ngay cho bác  Sancho và một mình đi tiếp con đường đã chọn.

Về già, y tỉnh ngộ, nhưng rồi cũng rơi vào bế tắc và buồn rầu. Y chết trong sự thương tiếc của mọi người – một  con người vừa đáng cười ,đáng giận vừa đáng thương đáng quí. Thật vậy, mĩ học đã gọi Don Quijote là nhân vật bi – hài kịch của cái cũ- cái  tốt đẹp nhưng đã cũ. Một hiệp sĩ đơn thương độc mã cưỡi ngựa xông vào  cái xã hội đang tư sản hóa trùng trùng điệp điệp kia thì thất bại là hiển nhiên không tránh khỏi.

Sancho Pancha
Bác nông dân Sancho Pancha đi làm giám mã trong hai chuyến giang hồ với Don Quijote  và cuối cùng quấn quýt bên hiệp sĩ  trong những giờ phút lâm chung của  con người trong sạch và đáng quí trọng này. Bác thật xứng đáng với lòng tin cậy và yêu mến của người quí tộc già ngây thơ .

Bác là dân cày, mang trong dòng máu tính nết hồn nhiên, chất phác, thực tế và cuối cùng bác là người chiến thắng. Sau hai cuộc phiêu lưu, bác trở về có ít tiền trao cho vợ, lại thêm những đức tính tốt học được của Don Quijote: lòng yêu tự do, công bằng, chính nghĩa, lòng yêu người. Tuy nhiên, là anh nông dân tư hữu, bác cũng có những thói xấu tham lam, ranh mãnh, tính toán muốn làm giàu bằng mọi cách, kể cả thủ đoạn vặt vãnh. Bác đi theo hiệp sĩ vì lời hứa hẹn sẽ được làm quan với những quyền lợi vật chất. Khi có ít tiền bác nghĩ đến việc đi châu Phi buôn nô lệ da đen nếu hiệp sĩ lo cho bác làm “vua châu Ph ” .

May mắn thay, bác lại được đi bên cạnh Don Quijote. Lương tri cao cả của hiệp sĩ đã kìm hãm bớt cái thói hám lợi của bác, nên bác đã không sa xuống con đường tội lỗ . Khi đã chán ngán hư danh và cảm thấy chức quan không hợp với mình, bác nói :

Hãy lùi xa ra , các ngài thân mến , hãy để cho tôi trở về với ý muốn trước đây của tôi . Cho phép tôi dời bỏ nơi này , để thoát cái chết dang đe dọa tôi . Các ngài hãy thưa lại với công tước ( quận công ) rằng tôi sinh ra trần truồng . Tôi không thua cuộc mà cũng không chiến thắng – tôi muốn nói rằng khi tôi đến đây cai trị không có một đồng xu thì bây giờ khi từ giã nơi này tôi đi với hai bàn tay trắng . Những cánh chim sếu mang tôi lên tận trời cao để cho lũ chim chích và các loài chim khác mổ chết tôi, hãy bỏ nó ở chuồng ngựa. Tốt hơn hết chúng ta tụt xuống đất và đi bằng hai chân.

Hình ảnh Sancho là nhân vật tương phản với Don Quijote, tương phản từ hình dáng đến tâm hồn nhưng không đối lập mà lại hòa hợp, bổ sung cho nhau. Hai nhân vật đi bên nhau, soi sáng cho nhau và chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Một tính cách thực tế đi bên một tính cách mộng tưởng điên rồ. Họ đã trở nên thân thiết như đôi bạn chứ không phải ông chủ và đầy tớ . Nhờ sự can ngăn rỉ rả của bác, lão Don Quijote cuối cùng cũng tỉnh ngộ. Trái lại , nhờ gần gũi nhà hiệp sĩ lãng mạn, bác nông dân thêm giàu lòng yêu người, yêu tự do công bằng và chính nghĩa. Thật ra bản chất vốn có của hai con người ấy cũng chẳng phải là ham muốn làm giàu và khao khát hư danh – đó chỉ là cái vỏ tạm thời. Cái gì đã gắn bó hai tính cách trái ngược ? – chỉ có thể là một tính cách  giống nhau căn bản giữa hai người mà thôi – ấy là truyền thống nhân văn chủ nghĩa.

Tiểu thuyết Don Quijote đặt nền móng vững chắc cho tiểu thuyết hiện thực :

Quang cảnh đât nước Tây ban nha với những làng mạc phố phường chợ búa, quán trọ  hiện lên thật sinh động dưới ngòi bút Cervantes. Mấy trăm nhân vật tiêu biểu đủ mọi tầng lớp xã hội  quí tộc, tăng lữ, nông dân thợ thuyền, lái buôn, sinh viên, kẻ cướp, gái điếm, thợ hớt tóc, gã ảo thuật rong . . . đều có mặt trong tác phẩm. Nhũng cảnh áp bức bóc lột và nhũng tệ nạn xã hội đều được phơi bày. Những lực lượng xã hội mới, những tư tưởng cải cách đòi giải phóng cá nhân đang bừng dậy … Cuốn tiểu thuyết 12 chương giúp người đời sau xem laị xã hội Tây ban nha thế kỉ 16 ồn ào náo động – xã hội quá độ từ phong kiến lên chủ nghĩa tư bản ở châu Âu.

Hai tính cách chính không đứng im bất động mà vận động theo cùng tác phẩm, sống động phức tạp. Đó là dấu hiệu cơ bản của chủ nghĩa hiện thực.

Nghệ thuật  kể chuyện của nhà văn rất phong phú, nhiều giọng điệu, khi dí dỏm bông đùa, khi trầm lắng suy tư lúc từ tốn khoan thai khi sôi nổi thúc giục, tùy theo hoàn cảnh mà biến đổi thích hợp.

Hình bóng chàng hiệp sĩ Don Quijote và bác giám mã Sancho Pancha vừa buồn cười vừa đáng yêu ấy vẫn còn đi lang thang mãi mãi khắp cõi nhân gian. Hai nhân vật bất hủ này đến với mọi người với tấm lòng thiết tha yêu tự do, lẽ phải và chính nghĩa ở đời, họ đã lên đường từ phong trào văn hóa Phục Hưng đến tận bây giờ.


sưu tầm nhé