Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

VĂN HỌC PHỤC HƯNG ITALIA, PHÁP, TÂY BAN NHA

1 -   ITALIA NHỮNG NGỌN GIÓ ĐẦU TIÊN

QUÊ HƯƠNG CỦA VĂN NGHỆ PHỤC HƯNG  là vùng Bắc Ý nơi có các đô thị lớn như Venise, Jaine, Milan, Florence. Nơi đây kinh tế trù phú phát triển mạnh mẽ. Dân đô thị ngày càng có ý thức về vai trò địa vị của mình. Tinh thần hoạt động làm giàu trở nên đức tính tốt. Họ đòi hỏi được tự do phát triển mọi khả năng và thỏa mãn mọi ham muốn. Luồng tư tưởng mới mẻ chống ý thức hệ phong kiến và nhà thờ đã khơi nguồn cho trào lưu nhân văn chủ nghĩa tuôn chảy.

Nhà thơ Dante
Vinh quang mở đầu phong trào văn nghệ Phục Hưng Ý thuộc về nhà thơ Dante – nhà thơ cuối cùng thời Trung cổ và thi sĩ đầu tiên của Phục Hưng. Tuy còn ảnh hưởng thế giới quan nhà thờ thần bí nhưng tác phẩm của ông đã ánh lên cảm quan mới của thời đại

Tác phẩm tiêu biểu của ông là “Thần khúc” (nguyên văn là Divinascomedia) viết bằng tiếng Ý, 100 khúc với 14 226 câu thơ. Gồm bốn phần: Khúc mở đầu / Địa ngục /  Luyện ngục /  Thiên đường. Tóm tắt cốt truyện như sau:

Nhân vật Dante khi đã sống được nửa đời người một hôm ông lạc bước vào khu rừng rậm ( chỉ tình trạng tội lỗi của người đời ) . Ba con thú dữ xông tới cản đường ( báo , sư tử và chó sói : ba thói xấu kiêu căng , ghen tỵ và keo kiệt ) . May sao từ trên thiên đường , nàng Beatrice vốn là người yêu đã quá cố của Dante đã gọi nhà thơ Virgile – người mà Dante suy tôn bậc thầy – đến cứu Dantethoát ra .

Virgile dẫn Dante đi tham quan Địa Ngục, cảnh tượng âm u rùng rợn chín tầng. Vạc dầu sôi, lửa cháy ngun ngút,  tội nhân bị gặm đầu, ngụp lặn trong bể máu. Đủ mọi loại người ở trần gian chưa được rửa tội. Có một cặp tội nhân được nhà thơ thông cảm xót xa – họ là chị dâu em chồng yêu nhau vụng trộm . Những kẻ phản bội tổ quốc rước giặc về giày xéo quê hương thì ông nguyền rủa, trong đó có cả Giáo hoàng Boniphace VIII. Tiếp đó Virgile dẫn Dante đi thăm Luyện Ngục gồm  7 bậc, nơi đây yên tĩnh giúp người ăn năn hối cải, tẩy rửa lỗi lầm. Họ là danh nhân văn nghệ sĩ triết gia anh hùng quá khứ là những người có công với tổ quốc, loài người. Họ sắp rời khỏi đây lên thiên đường cực lạc chan hòa ánh sáng .

 Nhưng khi qua khỏi Luyện Ngục, Virgile từ giã Dante vì ông là người dị giáo không lên được thiên đường. Nàng Beatrice lại xuất hiện trong ánh hào quang rực rỡ màu áo đỏ tươi  tấm khăn trắng trên đầu buông xuống cùng những cành nguyệt quế. nàng nhắc lại tình xưa nghĩa cũ , trách móc Virgile nặng nề nhưng thật đáng yêu:
“Một thời tôi đã lấy dung nhan nâng đỡ cho chàng
đôi mắt tơ xuân tôi để chàng ngắm
và tôi dắt chàng cùng tôi thẳng tiến
buồn thay vừa bước chân vào tuổi trưởng thành
tôi bỏ cuộc đời sang cõi trường sinh
chàng quên tôi, buông mình vào tay kẻ khác
Trả lời đi, nói đi cho mọi người biết
Chàng vô cùng đáng trách”
Dante cũng không nén nổi xúc động :
            “Tình yêu ơi , em cứ thì thầm trong trái tim ta”
Sau đó Beatrice đưa nhà thơ Dante lên cõi thiên đường, ông chiêm ngưỡng ngây ngất hình ảnh  Chúa Cứu Thế, lòng trào dâng niềm tin tưởng.

Đằng sau những quan niệm tôn giáo thần bí về ba thế giới (Địa ngục, Luyện ngục, Thiên đường) vốn là bút pháp tượng trưng, ẩn dụ quen thuộc thời trung cổ, chúng ta nhìn thấy hiện thực với nhiều ý nghĩa và quan niệm mới mẻ về tình yêu, báo hiệu mùa xuân thi ca mới. Đó là niềm tin vào  con người có trí thông minh và lòng dũng cảm. Dante say sưa ca ngợi anh hùng cổ đại Odyssee bôn ba đi tìm những bến bờ xa lạ. Ca ngợi những triết gi , nghệ sĩ Hi Lạp đem lại bao hiểu biết và xúc cảm cho loài người .

Hình tượng Virgile tượng trưng cho lí trí thì nàng Beatrice tượng trưng cho tình yêucái đẹp. Cuộc hành trình của nhà thơ Dante được dẫn dắt bởi hai nguồn tinh hoa ấy . Nhà thơ đi tới đâu ? Đến với hình ảnh Chúa Cứu Thế tượng trưng cho Chân -Thiện – Mỹ chứ chẳng phải đấng siêu hình nào.

Chẳng phải ngẫu nhiên nàng Beatrice có mặt từ đầu đến cuối cuộc đời nhà thơ. Ngay ở thiên đường nàng vẫn tiếc thương mối tình trần thế. Nàng là ân sủng tình yêu mãi mãi dành cho nhà thơ. Nhà triết học cổ điển Đức Hegel đã nhận xét thật đúng: “Dante nhờ tình yêu của Beatrice mà trở thành bất tử. Tình yêu được hoán cải biến thành tình yêu mới có tính tôn giáo không dục vọng” (Mĩ học – Hegel) .
Nhà thơ Dante đã đóng vai trò quan tòa khi ông đưa kẻ này xuống địa ngục, người khác lên thiên đàng theo chuẩn mực mới của chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng.

Nhà thơ Pétraque (1304-1374)

Tác phẩm tiêu biểu là Ca Khúc (Canzonie) . Tập thơ tình yêu nói về mối tình của ông với nàng Lora. Chịu ảnh hưởng của Dante, nhưng ông không ca ngợi một “nàng tiên” mà miêu tả ca ngợi một Lora bình thường sống giữa người trần, nàng hiện lên sinh động. Những mong đợi buồn tủi , khổ đau nhưng đó chính là tình yêu thực sự.
Ngoài thơ tình, Petraque còn làm thơ về triết học, chính tr , như bài “Nước Italia của tôi” , “Tâm hồn cao cả”. Thơ ông có tác động mạnh đến quần chúng nhân dân trong công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Italia .

Boccacio  và Truyện “Mười ngày”

(1313-1375)
Boccacio là nhà bác học nhân văn chủ nghĩa, ông say mê và am hiểu văn hoá cổ Hi Lạp La mã. Tác phẩm tự truyện “Phiammeta”. Truyện kể dựa trên mối tình của ông với công chúa Phiammeta .Nàng yêu ông bắt nguồn từ quí mến tài năng ông, nhưng gia đình ông là thương nhân địa vị xã hội thấp nên  cuộc tình duyên đã tan vỡ . Đau buồn, ông viết truyện để hả giận. Boccacio xây dựng nhân vật Pamphilo để cho nhân vật này bỏ rơi nàng Phiammeta.

Tác phẩm bất tử của Boccacio là Decameron (Mười ngày) .Truyên kể bảy cô gái ( trong đó có một cô tên Phiammeta ) và ba chàng trai (có nhân vật Pamphilo) đều là con nhà  quí tộc rủ nhau đến ở một lâu đài ở ngoại thành phố Florence để tránh bệnh dịch hạch. Họ chuyện trò, dạo chơi, để quên đi cái chết đang đe doạ thành phố. Mỗi ngày họ bầu một người làm vua  hoặc hoàng hậu để điều khiển cuộc vui chơi. Kể chuyện là trò thú vị nhất. Mỗi ngày họ lần lượt kể 10 câu chuyện. Sau mười ngày được 100 câu chuyện. Hết mười ngày thì nạn dịch hạch chấm dứt, họ lại quay về thành Florence.
Tác giả nói rằng ông viết truyện này để mua vui cho nữ giới vì họ là phái Đẹp và tình yêu của họ  là ý nghĩa của cuộc sống trần thế này.

Truyện Mười ngày cổ vũ tinh thần ham sống , yêu đời , chống lại quan điểm tôn giáo khổ hạnh cho rằng cuộc đời là tạm thời ,vật chất thể xác là đáng khinh bỉ. Truyện vang lên tiếng cười giòn giã chế giễu, đả kích đạo đức luân lí phong kiến và nhà thờ và học thuật của họ. Thầy tu, quí tộc và triết gia thần học kinh viện  đều bị đem ra làm trò cười, bị vạch chân tướng là những kẻ đạo đức giả, trác táng dâm ô bịp bợm. Tác giả đồng tình cổ vũ những mối tình tự do bất chấp khác nhau về đẳng cấp, địa vị, kể cả thú vui tình yêu thể xác tự nhiên. Nhà văn còn dành thiện cảm và khích lệ cho giới thị dân và thương nhân – những lớp người tiến bộ của thời đại.

Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, chủ đề phong phú đa dạng của Boccacio khiến Decameron   được coi là tác phẩm xuất sắc của Italia, mở đường cho truyện ngắn và tiểu thuyết châu Âu. Từ đây phương pháp hiện thực đã được chú ý và khẳng định. Mục tiêu chính là truyền bá tư tưởng nhân văn Phục Hưng nhưng ông còn chú ý miêu tả quang cảnh đất nước Italia từ thị thành đến làng quê đủ màu sắc.Hàng trăm kiểu nhân vật đa dạng từ mọi tầng lớp xã hội Italia hiện ra sinh động , tất thảy đều thể hiện tâm tư khát vọng sống cùng thời đại.

Giai đoạn kế tiếp, văn nghệ thiên về dịch thuật tác phẩm cổ Hi, bên cạnh thơ ca, nghệ thuật tạo hình nổi lên với những nghệ sĩ thiên tài như Leonardo da Vinci, Mikellange và Raphael . . .

Cuối phong trào, văn hoá Tây ban nha cùng với sự cai trị của đế quốc Tây Ban Nha vượt lên lấn át khiến cho văn hoá phục Hưng Italia tàn lụi dần. Giai đoạn này gọi là “hậu kì Phục Hưng”.

2 . VĂN HỌC PHÁP – MỘT MÙA HOA TRÁI TƯNG BỪNG

Văn nghệ Phục Hưng Pháp ra đời muộn hơn Ý. Mãi sau cuộc chiến tranh Anh – Pháp kéo dài 100 năm (1337 – 1453) chấm dứt, Pháp mới rảnh tay xây dựng lại đất nước và đi vào Phục Hưng.

Nửa đầu thế kỉ XV, các lãnh chúa củng cố vương quyền, xây dựng kinh tế. Cuối thế kỉ, nước Pháp trở thành quốc gia thống nhất về chính trị và kinh tế. Vua Louis XI được tư sản ủng hộ, khuyến khích thuơng mại, sửa sang đường giao thông thủy bộ, tổ chức bưu điện, chợ búa, hội chợ  đẩy mạnh ngoại thương với các nước ven bờ Địa Trung hải  và bắc Âu… Nửa đầu thế kỉ XVI, Pháp bắt đầu bành trướng thế lực. Dưới các triều vua Charles VII , Louis XII, Francoise I, Henri II, Pháp mở nhiều chiến dịch xâm lược Ý, giành giật với Anh và Tây Ban Nha. Chiến tranh khiến cho nước Pháp thiệt hại, kinh tế tài chính kiệt quệ, an ninh chính trị bất ổn, nội chiến tôn giáo bùng lên.

Điều đáng kể là do tiếp xúc với Ý, Pháp phát hiện ra nển văn hóa cổ đại Hi Lạp và La Mã với nguyên dạng của nó. Nhiều nhà bác học Hi Lạp được mời sang Pháp. Những người quí tộc Pháp thức thời đóng vai trò quyết định gây nên phong trào văn hóa Phục Hưng ở xứ sở này. Đó là tầng lớp quí tộc tiến bộ Pháp, trong đó có hai anh em nhà vua Francoise và em gái đã phất lên ngọn cờ nhân văn chủ nghĩa.

1 .Thành tựu của thể loại truyện
Truyện là thể loại có những thành công đáng kể. Nó phản ánh khá trung thành hiện thực nước Pháp thế kỉ XVI: mâu thuẫn xã hội gay gắt, giai cấp thống trị sa đọa (quí tộc hống hách, ăn chơi, tăng lữ hợm hĩnh, dốt nát), những lo toan khát vọng của dân chúng, niềm vui và nỗi đau khổ, tội ác và đạo đức đều được ghi lại. Ba cây bút xuất sắc là Margerite Danguleme, Bonaventue và Noel du Fale.

Marguerite D’Angouleme là em gái vua Francoise I . Sau khi góa chồng , bà tái giá với vua xứ Navare (thuộc Pháp). Là phụ nữ  thông thái nhất thời bấy giờ , bà thông thạo các thứ tiếng chủ yếu ở châu Âu (Hi Lạp, Latin, Ý, Anh, Do thái, Tây Ban Nha, Đức). Bà làm thơ và viết kịch; nổi tiếng là nhờ tập truyện “Truyện bảy ngày” bắt chước kết cấu “Truyện mười ngày” của Boccassio (Ý), nhưng phần sáng tạo nội dung rất độc đáo .Do xuất thân chốn cung đình, Margerite hiểu rõ đời sống quí tộc. Là một phụ nữ thông minh nhạy cảm bà tiếp nhận luồng gió mới nhân văn chủ nghĩa (thổi lên từ đất Ý) với niềm phấn khích, say sưa. Tác phẩm của bà toát lên khát khao hạnh phúc tình yêu. Bà tỏ ra hoài nghi nền đạo đức trung cổ dối trá, châm biếm lũ quí tộc tầm thường và thầy tu giả hiệu. Văn của bà đôi khi bộc lộ nỗi khát khao xác thịt. Bà nổi tiếng là cây bút nữ kể chuyện táo bạo, hấp dẫn hiếm có trên văn đàn.

2 . Thơ ca
Lúc đầu, nhà thơ Clement  Marot được coi là nổi tiếng nhất với tập thơ “Địa Ngục”. Tập thơ tố cáo thói cuồng tín, chủ nghĩa ngu dân của trường đại học Sorbone, lên án pháp luật đương thời, bọn quan tòa và những tệ nạn do luật pháp phong kiến gây ra.

Pierre de Ronsard là nhà thơ quí tộc, được nhà vua che chở, công danh rộng mở. Sau một trận ốm bị điếc, nhà thơ thất vọng quay ra làm thơ. Nổi tiếng là các tập thơ tình yêu , nhất là tập  Sonnet gửi Helene với cảm hứng say mê cổ đại và Phục Hưng Ý. Ronsard là nhà thơ của hạnh phúc và tình yêu trần gian, của thiên nhiên và lòng yêu nước. Ông cùng với Du Bellay lập ra trường phái thơ La Pleiat.

Joachim Du Bellay (1522-1560) là người viết bản tuyên ngôn của thi phái La Pleiat “bảo vệ và làm giàu cho tiếng Pháp”. Lúc đó, ở nước Pháp, tiếng Latin vẫn là ngôn ngữ chính thống, sự ra đời của bản tuyên ngôn đó là cái mốc quan trọng của nền văn hóa Pháp. Bản tuyên ngôn thể hiện ý chí thống nhất nước Pháp, là quyết tâm, hoài bão của trí thức văn nghệ sĩ muốn sáng tạo một nền văn hóa dân tộc có thể sánh ngang ngôn ngữ văn hóa Hi La cổ đại. Bảy nhà thơ tiêu biểu hợp thành thi phái, tập thơ “Luyến tiếc”(Regrets) của Du Bellay nổi tiếng hơn cả.

Còn hai dòng thơ khác chứa đựng nhiều hương vị. Dòng thơ Lyon của tầng lớp thị dân đông đảo khát khao cuộc sống thế tục và nền văn hóa mới. Dòng thơ nội chiến tôn giáo nổi lê hai giọng thơ bi tráng đau lòng vì cảnh huynh đệ tương tàn, đẫm máu đẩy nước Pháp trở lại cảnh chia sẻ lãnh thổ. Các bài thơ đều hàm ý chỉ trích đạo thiên chúa ỷ thế mạnh hơn tranh giành dịa vị để ” giằng lấy bầu sữa của đất mẹ mà uống một mình “.

3 . Nhà văn Rabelais (1494-1553) và bộ tiểu thuyết “Gargantua & Pantagruel”
Francoise Rabelaise là nhà tiểu thuyết và nhà bác học, sinh vật học, bác sĩ y khoa , luật gia nhà thiên văn học, thông thạo cả sáu ngoại ngữ quen thuộc ở Tây Âu. Học trường dòng, trở thành tu sĩ nhưng Rabelaise sớm chán ngán cuộc sống tu hành. Bị quở phạt , anh cởi bỏ áo tu sĩ đi đây đó lẩn tránh gia đình và bề trên. Anh say mê nghiên cứu cổ đại và ưa giao du với các nhà tri thức nhân văn chủ nghĩa. Trở lại học luật, xong đi Paris học y khoa. Đi làm thầy thuốc ở Lyon và viết tiểu thuyết. Xuất bản cuốn Gargantua. Cuốn này bị trung tâm thần học Sorbone lên án. Rabelais bèn xin đi theo Hồng y Giáo chủ Jean Due Bele sang La mã cầu cứu. Năm sau cuốn Pantagruen tiếp nối cuốn  kia ra đời (tập 2), lại bị đại học Sorbone lên án, tác giả phải chạy sang  La mã, được giáo hoàng  công bố miễn tội.

Năm 1545 được phép vua, ông xuất bản “Cuốn thứ ba” kí tên thật, lại bị lên án. Năm 1552 xuất bản “Cuốn thứ tư” vẫn bị đại học Sorbone phản kích gay gắt.”Cuốn thứ năm” được xuất bản sau khi tác giả qua đời năm 1554.

Ngoài bộ tiểu thuyết năm cuốn, Rabelais còn viết sách y học và khảo cổ học. Rabelais là một trong những “người khổng lồ” của văn học Phục Hưng Tây Âu.

Tóm lược nội dung 5 tác phẩm :
GARGANTUA – CUỐN 1
             Gargantua là cậu bé con của một lãnh chúa vùn .  Cậu bé khổng lồ vừa lọt lòng mẹ đã cất tiếng đòi ăn uống. Phải vắt sữa 176913 con bò mới đủ cho nó thỏa cơn khát đầu tiên. Lớn lên, theo học thầy tu Tuba . Cậu bé trở nên ngớ ngẩn bởi ông thầy nhồi nhét hàng lô kiến thức “chết”( kinh viện, thần học). Cha cậu gởi con đi học ở Paris . Trên đường đi , đuôi ngựa cậu quật nát cả một khu rừng .

Vừa đến Paris ,Gargantua lấy ngay chuông nhà thờ Đức Bà treo lên cổ ngựa đi chơi .Đại học Sorbone cử một ông thầy ra điều đình với cậu, ông nói một tràng tiếng Latinh, mọi người cười lăn vì chẳng ai hiểu gì cả .

Giáo sư của cậu bé là thầy Ponocrates, thầy áp dụng thí điểm một chương trình và phương pháp dạy học mới nhằm phát triển con người toàn diện: trí đức thể mĩ, lại có lao động chân ta , học ngh , đi tham quan sản xuất, công trường, đi dã ngoại cỏ cây . . . Phương pháp mới là hướng dẫn học trò quan sát tự rút ra kết luận , gợi hứng thú cho học trò nghiên cứu .

Gargantua đang say mê học tập thì có thư cha gọi về chống giặc xâm lược. Thời chiến tranh , các tu sĩ chỉ biết đóng cửa lo cầu nguyện . Riêng có một thầy tu dũng cảm ra trận diệt được nhiều giặ . Hoàng tử Gargantua thưởng công cho thầy : xây một tu viện mới  tên là Theleme giao cho thầy phụ trách . Tu viện có qui chế mới lạ: con trai từ 12 đến 18 tuổi, con gái từ 10 – 18 đều được tự do vào học . Một khẩu hiệu lớn treo trước cổng: ” Muốn làm gì thì làm “… Trai gái  tự do sống theo theo sở thích, vui chơi thả cửa tự do yêu đương, chừng nào chán tu viện thì bỏ đi .

PATAGRUEN – CUỐN 2
Gargantua cưới vợ, sinh con trai . Đứa bé tên Pantagruen, mẹ nó chết sau khi sinh đẻ . Trước nôi con và xác vợ, Gargantua suy nghĩ hồi lâu không biết nên khóc hay nên cười . Anh quyết định ở nhà ẵm con để mọi người đi chôn cất vợ mình .

Giống như cha, Pantagruen cũng là một đứa bé có tầm vóc khổng lồ. Lớn lên nó cũng được gởi đi học ở những trường đại học nổi tiếng như Pati , Bordo, Touluse , Avignon , Orlean  .
Gar gantua thường viết thư động viên con chăm chỉ học tập nắm lấy kiến thức khoa học tiến bộ của thời đại. Pantagruen kết bạn với Panucger một anh chàng thông minh và láu cá .
                                                            CUỐN THỨ 3
QUÂN ĐỘI Dipsos xâm lăng bờ cõi . Pantagruen ra trận , dẹp tan giặc . Panucner được giao cai quản một thành trì. Gã này tiêu xài hoang phí , chỉ 14 ngày tiêu xài hết sạch của cải. Gã băn khoăn hỏi Pantagruen có nên lấy vợ hay không . Anh chẳng biết đáp thế nào nên rủ bạn đi tìm người giải đá . Hỏi nhiều hạng người nhưng chẳng ai trả lời thỏa đáng . Họ tiếp tục đi ra nước ngoài .
                                                            CUỐN THỨ 4
Đôi bạn lên tàu vượt biể . trên tàu, Panucner cãi lộn với một lái buôn cừu. Panucner trả thù bằng cách mua con cừ đầu đàn của đối phương rồi ném xuống biển, cả đàn cừu lần lượt nhảy theo xuống biển, gã lái buôn tiếc của cũng nhảy theo . Tàu gặp bão , Panucner sợ chết rên rỉ khóc than tìm chổ nấp.Thầy tu Jean và các thủy thủ cố sức chèo chống . Sóng yên bể lặng, panucner nhảy ra khoe khoang công trạng giúp tàu. Thuyền ghé vào hai hòn đảo. Dân chúng hao đảo này thù ghét nhau chém giết nhau liên miên ( ám chỉ cuộc nội chiến tôn giao ở Pháp) . Thuyền ghé thăm đảo Metce (nghĩa là ông dạ dày), nơi đây diễn ra những hoạt động khoa học và nghệ thuật .

CUỐN THỨ 5
Thuyền đến đảo Sonant . Nơi đây có những loài chim lạ thoạt trông có dáng hình người: chim lông trắng , chim đen tuyền, chim xám xịt, khoang đen, khoang trắng , hoặc đỏ chót . Lũ chim chỉ việc ăn no và hót kêu. Có một con chim đầu đàn . (ám chỉ  các loại thầy tu).

Thuyền lại ghé đảo có giống mèo lông xù chuyên sống bằng của đút lót. Tiếp đến đảoAnpedepe (ám chỉ thuế khóa), rồi ghé đảo Quintesant (ám chỉ đại học Sorbon). Hành trình tiếp tục và kết thúc khi thuyền đến xứ Langtenoi , họ được nữ chúa dẫn vào ngôi đền thờ “Lọ nước thần”. Khi Pantagruel đưa ra câu hỏi có nên lấy vợ không, nữ chúa chỉ trả lời «  uống đi! » ( trinhch ! )


Michel de Montaigne – nhà văn lớn cuốI cùng của thế kỉ 16 Pháp .

1. Cuộc đời và sự nghiệp:
Tên thật là Michel Eyquen
Xuất thân gia đình thưong nhân tư sản, cụ cố từng là lái buôn cá, sau mua đựoc trang trạI lâu đài của dòng họ quí tộc Montaigne, trở nên giàu có và gia nhập  hàng ngũ quí tộc. Cha của nhà văn lập công trong chiến dịch đánh Italia và đựoc bổ nhiệm chức vụ thị trưởng Bordeau.
Tốt nghiệp khoa luật ở đạI học Tulouse, Montaigne làm cố vấn ở toà án Perigor… nhưng không yêu nghề. Sau khi cha chết, ông bán lạị chức vụ, rút về ở trang trạI, miệt mài đọc sách. Ông còn giao du vớI bạn bè, đi đây đó. Năm 1580 viết xong hai tập tiểu luận “Essais”, ghi lại những ý kiến ,nhận xét về những sách đã đọc, về cuộc đờI và những nơi đã đi qu . Theo ông “essais” nghĩa là thể nghiệm, thể nghiệm cái năng khiếu tự nhiên của mình. Hoặc “đây chỉ là cuốn sổ ghi lạI những điều thể nghiệm đựơc trong đờI tôi“… Bị bệnh ông tìm đến nơi có suốI khoáng để an dưỡng. Ông sang Thuỵ sĩ , Italia, thăm La Mã đựơc tặng danh hiệu công dân thành La Mã. Vua Pháp gửI thư mờI ông về làm thị trưỏng Bordeau vì ông đựơc bầu vắng mặt. Ông trở về nứơc nhưng không thích nhiệm vụ này . Nạn dịch chết nhiều người ở lãnh địa Bordeau khiến ông bỏ về trang trại chạy dịch. Từ đó ông ít đi khỏi nhà, ngẫm nghĩ và viết.

Suốt thời kì chiến tranh tôn giáo (1560-1594), thái độ trung lập của ông khiến cả hai phe ngờ vực. Mặc họ, ông vẫn đọc sách, ghi chép và viết Tiểu luận tập 3 và cho tái bản hai tập đầu sau khi chỉnh lí sửa chữa.

Ông mất năm 1592 tại lâu đài. Năm 1595 bộ Tiểu luận  toàn tập đựơc bà De Gurnay con nuôi của ông xuất bản .

2. Tiểu luận và giá trị văn học
Tác phẩm nói lên con người tác giả vớI những mâu thuẫn hạn chế nhưng tràn đầy suy nghĩ và tìm tòi sáng tạo của một nhà tư tưỏng, nhà văn nghệ sĩ. Đó là cây bút trung thực dám bộc lộ quan điểm và cả thói xấu của mình, như ông viết  chỉ nói về tôi” .

Ông nói thẳng rằng ông không thích chính trị. Ông cho rằng “chính trị là công việc của những người biết phục tùng hơn và mềm dẻo hơn“ . Rằng “lợi ích công cộng đòi hỏI ngưòi ta phản trăc, dối trá, chém giết “ (Chưong I : Về cái lợI ích và cái lương thiện). Chính do quan niệm ấy, ông chán ngán, từ bỏ chính trưòng, về nhà đóng cửa đọc sách .

Chính trị thờI đó là chính trị của giai cấp phong kiến quí tộc và giai cấp tư sản đang ngoi lên. Nhà văn không thể nào chịu đựng đựoc thứ chính trị “phản trắc, dốI trá, giết ngưòi” của họ.

Nhà văn khẳng định phảI tuân theo những luật lệ của môi trường trong đó ngưòi ta sống “đừng nên thay đổi dễ dàng một luật lệ sẵn có“. Ông nghi ngờ cả hai phái cảI cách tôn giáo, không nhập cuộc. Quan điểm của ông có ý nghĩa tích cực vào giai đoạn đó .

Ông nêu lên một kiểu chủ nghĩa hoài nghi Montaigne qua câu hỏI nổI tiếng của ông:”Tôi biết gì ? “ (Que sais je ?) . Câu hỏI vang lên như một lờI phủ định toàn bộ những chân lí cũ, tín điều cũ. Ông phê phán triết học kinh viện, rằng nó chẳng phảI là khoa học, không giúp ích gì cho sự hiểu biết của con ngưòi. Ông hoài nghi cả cảm giác và lí trí. Nhưng không phải ông chỉ biết hoài nghi , “tôi yêu cuộc sống và tôi chăm bón cho nó“ . Ông bàn về cái chết, tâm lí sợ chết của ngưòi đờI và cố gắng đánh tan tâm lí đó. Theo ông , ngưòi ta sợ chết vì đã hình dung ra nó một cách sai lầm. Nếu biết gạt bỏ quan niệm sai thì ngưòi ta sẽ coi cái chết như hiện tưọng tự nhiên bình thưòng ,“mỗI ngày sống là tiến dần cái chết, ngày cuốI cùng là ngày đi tới nơi“.Ông hạ bút kết luận:”Triết học là học cách chết“. Khi đã không sợ cái chết nữa thì sẽ yêu cuộc sống hơn, học cách chết chính là học cách sống . Ông khẳng định rằng hạnh phúc niềm vui là niềm khao khát của mọi loài vật chỉ có đựơc ở ngay trần gian này. Muốn sống hạnh phúc thì phảI sống theo tự nhiên, thích ứng vớI tự nhiên. Tự nhiên có qui luật của nó, trật tự vững vàng và không phụ thuộc vào sự biến đổI của con ngưòi. Nhìn chung tư tưỏng của ông bắt gặp tư tưỏng nhân văn chủ nghĩa của thời đại Phục Hưng .

Đặc biệt, quan điểm giáo dục của Montaigne đáng đựơc chú ý. Trong chương “Bàn về trưòng lớp học cho trẻ em” ông đề xuất nhiều quan điểm tiến bộ. Ông lên án nhà trưòng Trung cổ “đích thị là một nhà tù giam cầm tuổI trẻ“ , ở đó chỉ “nghe tiếng trẻ con bị nhục hình đang gào khóc và tiếng cáu gắt của thầy giáo đang giận dữ“ . Ông mong muốn nhà trường phải là nơi đầy hoa lá chứ không cần đòn roi đẫm máu . Ông phản đốI lốI học nhồI nhét kinh viện, dạy học trò những điều vô bổ và phi lí. Giáo dục là xây dựng một con ngưòi chứ không phải chỉ bồi dưỡng tâm hồn và trí tuệ. Con ngưòi học trò phảI biết sáng tạo, biết suy nghĩ chứ không phảI đầy ắp kiến thức. Ông còn chủ trương đi du lịch tham quan, tiếp xúc nhiều với mọi ngờơi để tránh “tầm nhìn thu ngắn lạI bằng chiều dài sống mũi“.Đề án giáo dục của Montaigne căn bản đáp ứng nhu cầu của con em giai cấp quí tộc, giống nhưng không có vẻ “khổng lồ “ nhu Rabelais  .

Nghệ thuật luận văn của Montaigne rất hấp dẫn, trứơc hết nhờ những ý kiến mớI mẻ, cách dẫn dắt khéo léo khôn ngoan. Ở đó, nhà tư tưởng và nhà văn hoà hợp làm một cây bút.

Tránh sự khô khan của nhà triết học, văn ông trình bày đựơc những niềm vui bất ngờ lí thú .Tư tưởng nằm trong những hình ảnh cụ thể, thông qua cảm giác, mẩu chuyện, giai thoại vớI những ngôn ngữ giản dị ngây thơ. Ông tự nhận xét “đó là phong cách hài hước và riêng biệt”. Ông là nhà văn phóng túng, ngòi bút đang buông thả theo dòng bỗng nhiên sực tỉnh quay lại hoặc đột ngột chấm dứt. Bố cục các chương mục khó mà cân đối, chương ngắn xen kẽ chương dài. Một số nhà văn không thích và phê bình chỉ trích phong cách của ông, nhiều nhà triết học thế kỉ 18 Pháp lại ca ngợI ông và văn chương của ông.


3 – TÂY BAN NHA MỘT MÙA GẶT HÁI BỘI THU

Tây ban nha thế kỉ 15 thường xuyên xảy ra những cuộc tranh đoạt ngai vàng . Lãnh thổ chưa được thống nhất. Sang thế kỉ 16 , sau khi đuổi sạch quan xâm lược  đất nước TBN thống nhất  và phát triển mạnh mẽ . Nhờ vơ vét nhiều vàng bạc châu báu ở châu Mĩ và bóc lột các thuộc địa ở châu Âu, đất nước này giàu lên mau chóng . Dân chúng và quí tộc đổ xô sang châu Mĩ sinh cơ lập nghiệp và truyền bá tôn giáo cùng nền quân chủ.

Nền quân chủ TBN gắn bó chặt chẽ với lí tưởng thiên chúa giáo, chỉ phục vụ lợi ích quí tộc phong kiến và đẳng cấp tăng lữ. Thị dân và nông dân không ủng hộ nhà nước. Tôn giáo lộng hành, những kẻ cuồng tín, mê nuội và những nhà thờ tu viện dày đặc khắp đất nước.

Đến giữa thế kỉ 16, nền kinh tế khủng hoảng suy thoái  nông dân phá sản lây lan sang giới tiểu chủ, quí tộc cấp thấp. Công thương nghiệp cũng đình đốn.Tham nhũng, trộm cướp, tệ nạn xã hội cờ bạc đĩ điếm  Một  tâm trạng chung là hoài nghi bi quan  lan tỏa.

Những tình hình trên đã được phản ánh vào tác phẩm văn học. Đây là thời kì hoàng kim của văn học TBN, đạt tới đỉnh cao ở nửa sau thế kỉ 16 vươn dài tới giữa thế kỉ sau, trong khi kinh tế xã hội nước này vẫn suy thoái. Văn học Phục Hưng TBN có thể chia hai giai đoạn :

3.1 – Giai đoạn sơ kì Phục Hưng
Sau khi chiếm được vùng Napoli của Ý, vua TBN là Anphongse V quyết tâm biến thành phố này thành vùng văn hóa TBN. Nhưng chính nền văn hóa Phục Hưng Ý lại chinh phục được những kẻ đi chinh phục. Những tác phẩm Ý đã hấp dẫn cuốn hút các nghệ sĩ TBN gây nên phong trào  học tập và bắt chước  mẫu mực Ý. Các vua TBN cũng bắt chước các vua Ý đứng ra đỡ đầu cho các nhà bác học và văn nghệ sĩ giúp họ sáng tạo. Thơ ca TBN lúc đầu chịu ảnh hưởng thơ Ý, thành tựu đáng kể là “Romencero” được Victor Hugo gọi là “bản  anh hùng ca Illiade của dân tộc Tây ban nha”.
Tiểu thuyết hiệp sĩ cũng phát triển mạnh  trong giai đoạn đầu .

3.2 . Giai đoạn Phục Hưng nở rộ
Văn học phát triển toàn diện nhưng nổi bật là thơ ca, tiểu thuyết và kịch .

Thơ ca nhiều dòng: dòng thơ Ý, thơ truyền thống, thơ Salamant và dòng thơ thành Seville. Thơ phản ánh toàn diện tâm tư tình cảm đa dạng của giới trí thức Tây Ban Nha về đất nước lịch sử, dân tộc, về thời đại mới đang đến, về tình yêu. . . Các nhà thơ tiêu biều là: Juan Bocan, Cristobal, Louise Lenon, Fernando và De Vega.

Tiểu thuyết:
Hơn bất cứ nước nào ở Tây Âu, tiểu thuyết TBN phát triển rất mạnh, đạt tới đỉnh cao hiếm có như Don Quijote của Cervantes. Trước tiểu thuyết độc đáo này có ba dòng tiểu thuyết : tiểu thuyết hiệp sĩ, tiểu thuyết mục ca và tiểu thuyết Pycarete.

Tiểu thuyết mục ca: dòng tiểu thuyết quí tộc, nhân vật quí tộc bất mãn với xã hội tư sản nên tìm cách thoát ly, rời bỏ cuộc sống đô thị chật hẹp , khoác lên mình bộ áo người chăn cừu. Họ là những nam nữ du mục sống nơi hoang dã ,núi non. Tiểu thuyết ca ngợi lối sống du mục tự do, trong sạch phóng khoáng khác xa cuộc sống cạnh tranh vật chất và tù túng chốn cung đình và thành thị .Các mục đồng say sưa với tình yêu ngoài bãi cỏ, sườn non bờ suối coi tình yêu là niềm vui lẽ sống duy nhất . Nổi tiếng là tiểu thuyết  “Nàng Diana” của Montemayor gồm 7 cuốn. Chuyện kể một mối tình đau khổ của hai chàng chăn cừu Cireno và Sinvano, cả hai cùng yêu nàng Diana một cô gái chăn cừu xinh đẹp. Nàng yêu Cireno và lạnh nhạt với Sinvano. Rồi nàng lại từ bỏ tất cả để đi cưới tên nhà giàu Dellio. Một cô gái khác tên Senvakia làm quen và an ủi hai kẻ thất tình. Một anh khỏi bệnh và một chàng được yêu. Cuốn tiểu thuyết này có tiếng vang ở châu Âu, Cervantes và Sakespeare đều chịu ảnh hưởng  của nó.

Tiểu thuyết Pycarete: Miêu tả cuộc sống của lớp người vô sản hóa và lưu manh gọi là tầng lớp Picaro. Họ không có nghề nghiệp, đi lang thang, làm bất cứ việc gì để sông bất kể tốt xấu, vào tù ra khám là thường. Họ lưu lạc giang hồ lên voi xuống chó. Tiểu thuyết viết dưới dạng hồi kí thường do một picaro kể lại đời mình. Những pha gay cấn éo le được miêu tả sinh động hấp dẫn. Tiểu thuyết Pycarete có ý nghĩa tố cáo thực trạng ở một số nước Tây Âu đương thời, gây ảnh hưởng mạnh đến loại tiểu thuyết giang hồ ở Anh, Phá , Đức, rõ nhất là cuốn “Robinson Crusoe” của Daniel Defoe nhà văn Ánh sáng  Anh .

Tiểu thuyết hiệp sĩ :Tác phẩm ca tụng nhân vật hiệp sĩ lí tưởng của chế độ phong kiến trung cổ. Đến cuối thế kỉ 16, loại tiểu thuyết này suy tàn vì chẳng còn người đọc.

Tiểu thuyết hiện thực Phục Hưng đánh dấu bằng kiệt tác Don Quijote của Miguel De Cervantes. Don Quijote đã  chế giễu tiểu thuyết trung cổ lỗi thời cùng với lí tưởng hiệp sĩ TBN, đóng vai trò kết thúc dứt điểm thể loại này.


3.3. CERVANTES VÀ TIỂU THUYẾT DON QUIJOTE

Nhà văn Miguel de Cervantes sinh năm 1547 tại một thị trấn gần thủ đô Madrid. Trường đại học Madrid là một trung tâm nhân văn chủ nghĩa nổi tiếng thời bấy giờ. Ông cụ thân sinh nhà văn làm nghề thây thuốc, thuộc dòng dõi tiểu quí tộc. Cervantes có 7 anh chị em, theo cha chuyển cư nhiều nơi mãi sau mới định cư ở Madrid, cha vẫn làm thầy lang nghèo . Cervantes may mắn được học hết bậc đại học. Hai mươi tuổi anh được đi phục vụ giáo chủ Aquaviva là đặc sứ của Giáo hoàng tại Tây ban nha. Anh theo giáo chủ sang Italia – nơi mơ ước của thanh niên trí thức châu Âu – cái nôi của phong trào văn hóa Phục Hưng , vùng đất giàu đẹp hiếm có.Giáo chủ Aquaviva qua đời, anh ở lại gia nhập quân đội Tây Ban nha đang đồn trú ở Italia . Năm 1571, trong một trận thủy chiến, Cervantes chiến đấu dũng cảm bị thương nặng mất một cánh tay. Năm 1575 ông được phép về thăm tổ quốc và gia đình , mang theo 2 lá thư tiến cử mình với triều đình hoàng đế Philip II. Lá thư thứ nhất của Don Juan tư lệnh quân đội TBN. Lá thư thứ hai của Don Carlos phó vương đảo Cicille. Hai lá thư giới thiệu ông là chiến binh dũng cảm, đề nghị triều đình khen thưởng và trọng dụng

Trên đường về nước cùng đi có cả anh ruột và  nhiều chiến sĩ có công trạng. Không may giữa đường thuyền của ông bị bọn cướp biển Bắc Phi chặn đánh. Ông và đồng đội chống trả đến cùng nhưng thatt bại. Ông và những người sống sót bị đưa sang Angeri  bị giam giữ suốt 5 năm , nhiều lần vượt ngục không thành. Ông được coi là người lãnh đạo tù nhân đấu tranh. Mỗi khi vượt ngục thất bại ông đều đứng ra nhẫn trách nhiệm khiến kẻ thù cũng phải vị nể. Có lần ông đã vạch kế hoạch cướp chính quyền ở Angeri. Năm 1580 ông được chuộc ra do gia đình và bạn bè cùng nhà dòng góp tiền . Triều đình TBN dửng dưng không hề can thiệp vào việc giải phóng những người chiến sĩ trung thành của đất nước .

Về đến quê nhà, cha vừa mất gia đình đã khánh kiệt nghèo túng hơn xưa. Cervantes lại thêm đau lòng vì cảnh quê hương đất nước tiêu điều, cung đình thì ăn chơi xa hoa lộng lẫy .ông tìm vào kinh đô với hi vọng công lao của mình được khen thửng. Nào ngờ vua Philip II chỉ ban cho ông 50 đồng tiền vàng và ra sắc lệnh điều ông đi công việc ở Bắc Phi . Sau chuyến đi tiền xài hết. Ông xin một chức vụ nhỏ nhưng triều đình làm ngơ vì họ cho rằng đã bù đắp đủ cho  5 năm chiến đấu Bắc Phi và cánh tay cụt của ông.

Cervantes trở lại cuộc đời người lính, sang đóng quân ở Bồ Đào Nha. Chán nản, ông xin giải ngũ về nhà, lấy vợ. Để kiếm sống, ông làm thơ viết kịch, vẫn không đủ sống , lại đi xin việc, quân đội cho ông công việc đi thu gom lương thực. Mười năm làm nghề này va chạm nhiều với giới quí tộc và tăng lữ – những kẻ ngoan cố gian lận nhất trong việc đóng thuế lương thực và bán lúa thừa. Trong khoảng đó ông viết vài truyện ngắn, rồi mấy lần vào ra tù vì bị vu oan lạm tiền công quĩ và lương thực. Lại có lần ông bị nhà thờ trù dập rút phép thông công.

Mười mấy năm cuối đời, ông sống nghèo túng nhưng lại là lúc tài năng sáng tạo văn học phát triển. Năm 1605, Cervantes 58 tuổi, cho xuất bản tập 1 của tiểu thuyết tiếng Tây ban nha là El Ingenioso Hidango Don Quijote de La Mancha, nghĩa là Truyện nhà hiệp sĩ trứ danh DonQuijote dòng dõi Hidango ở xứ Mancha (Trước đây dịch qua bản tiếng Pháp là Đông Ki Sốt, nay nên đọc  theo đúng ngữ âm Tây ban nha là Đông- Ki hô tê).  Cuốn sách lập tức được dịch sang tiếng Pháp, Ý, Bồ đào nha và tái bản 4 lần ở Tây ban nha trong năm đó. Trong 6 năm kế tiếp ông đang viết tiếp tập 2  thì có tên lừa đảo tung ra cuốn “Don Quijote phần 2″ khiến ông phải mau chóng hoàn thành phần 2 thực sự của mình để xuất bản (năm 1614). Ông còn viết một tập kịch nữa, sách in nhiều, bán chạy nhưng bọn chủ nhà in thì phất lên giàu có còn ông vẫn nghèo vì tiền nhuận bút ít ỏi. Nhà văn Cervantes  về già  vẫn nghèo túng, bệnh tật liên miên. Ông còn viết một cuốn tiểu thuyết cuối cùng và hoàn thành trước khi mất một tuần – ông qua đời ngày 23 tháng tư / 1616.
Ngày nay, cuốn Don Quijote được coi là tác phẩm lớn lao nhất, đỉnh cao chói lọi của Cervantes. Trong lời Tựa, nhà văn nói rằng ông muốn nhái lại tiểu thuyết hiệp sĩ”, tác phẩm của ông “từ đầu đến cuối là một lời thóa mạ dài” đối với loại tiểu thuyết đó. Sau đây giới thiệu tóm tắt cốt truyện :

Xứ Mancha, Tây ban nha có một nhà quí tộc sa sút tên là Kijana  khoảng  năm chục tuổi , cao lênh khênh , gày gò nhưng tráng kiện . Quanh năm nhàn rỗi, không làm việc gì ngoài vùi đầu đọc sách hiệp sĩ . Y đọc mải miết, chẳng ngó ngàng tới sự đời , nhà cửa ruộng đất và quên hết những thú vui thông thường. Y bán dần ruộng đất để mua sách hiệp sĩ chất đầy nhà. Đọc nhiều ngủ ít, trí óc y lú lẫn , y coi những chuyện trong sách là chuyện thực ngoài đời , hơn cả sự thực. Một ngày kia y nảy ý định lên đường làm hiệp sĩ giang hồ để cứu khổ phò nguy thiên hạ và làm rạng rỡ  tên tuổi mình .
Y moi ra những áo giáp, khiên mũ và thanh kiếm cũ của ông tổ bốn đời rồi lau chùi hoen rỉ , sửa sang trang bị cho mình. Con ngựa gầy còm trong chuồng y lôi ra làm con chiến mã và đặt cho nó cái tên mĩ miều -Rossinant . Y cũng đổi luôn tên mình thành “Don Quijote xứ Mancha” cho đúng kiểu cách một trang hiệp sĩ . Lại phải tìm ra một người phụ nữ đẹp để tôn thờ làm “bà chúa của trái tim hiệp sĩ ” , y nghĩ tới một cô gái nông dân ở làng Tobozo mà đã có lần y cảm động xao xuyến khi nhìn thấy . Chẳng biết tên cô , y đặt cho cô cái tên quí phái – Duncine công nương xứ Tobozo . Y đắc ý vì đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ để làm một hiệp sĩ mẫu mực .

Một buổi sớm rạng đông , y mặc trang phục hiệp sĩ cưỡi ngựa lẻn ra đi không để cô cháu gái già và mụ quản gia biết .Lang thang suốt ngày đầu tiên , chiều y tới một quán trọ bên đường có nhiều người ngựa ra vào , y tưởng đó là một lâu đài của một quí tộc lãnh chúa – người có thể giúp tấn phong danh hiệụ hiệp sĩ . Y dắt ngựa vào , trịnh trọng tự giới thiệu với chủ quán và bày tỏ nguyện vọng . Lão chủ quán tin rằng y là một kẻ tâm thần rồ dại nhưng nghĩ nhân cơ hội bày trò vui cho khách trọ nên nhận lời làm lễ tấn phong  hiệp sĩ cho y . Tối hôm ấy , theo như phong tục hiệp sĩ trong sách , y thức trắng đêm để tâm niệm , suy ngẫm . Một gã lái buôn cũng là khách trọ dắt ngựa đi uống nước lỡ đụng chạm đến đống võ khí trang bị cụa y để bên thành giếng nước . Nghĩ rằng mình đã bị xúc phạm , y cầm cây giáo đập vào đầu gã khách thương khiến y ngã lăn bất tỉnh . Chủ quán vội vã bày lễ tấn phong để mau chóng tống khứ ông khách kì dị này đi . Tin tương rằng đã là hiệp sĩ , y tiếp tục lên đường tìm cơ hội ra tay nghĩa hiệp lập chiến công .

Thấy cảnh một em bé mục đồng bị ông chủ trói đánh đập tàn nhẫn , y thúc ngựa xông vào can thiệp . Hỏi ra mới biết em bé để lạc mất một con cừu nên bị chủ phạt , y giận lắm . Quắc mắt lên y ra lệnh cho tên chủ cởi trói cho em bé , trả tiền công đầy đủ , lại bắt hắn phải thề từ nay không hành hạ em bé làm thuê nữa . Hoảng sợ , tên chủ vội hứa hẹn . Nhưng khi hiệp sĩ vừa đi khuất,  gã chủ lại trói và đánh em bé tàn nhẫn hơn trước .

Tiếp tục cuộc hành trình vô định , Don Quijote gặp một đoàn lái buôn . Y chặn họ lại , yêu cầu họ phải lên tiếng thừa nhận nàng Duncine xứ Tobozo là người phụ nữ đẹp nhất thiên hạ . Bọn lái buôn nổi giận xúm lại đánh y một trận tơi bời à Một bác thợ cày cùng làng đi ngang qua thấy y ngã ngựa bèn vực y dậy , dìu về quê . Ở nhà , cô cháu gái và mụ quản gia cùng mấy người bạn của y đang đốt  bỏ đống sách hiệp sĩ của y . Họ chắc rằng sau chuyến thất bại xương máu vừa rồi y sẽ bỏ giấc mộng hiệp sĩ .

Nhưng sức khỏe vừa hồi phục , y lại âm thầm chuẩn bị tái xuất giang hồ . Y rủ rê bác nông dân hàng xóm tên là Sancho Pancha đi theo mình làm cân vệ dắt ngựa . Bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn của y , bác nhận lời . Thế là một sớm tinh mơ , hai thầy trò lẳng lặng lên đường . Đi sau con ngựa gày gò chở ông chủ cao gày là con lừa thấp bé chở bác thợ cày lùn mập ù vai đeo chiếc bị đựng đồ ăn và một bầu rượu lớn . Khi nhìn thấy những chiếc cối xay gió khổng lồ , hiệp sị tưởng đó là bọn quỉ khổng lồ hung ác . Bất chấp bác Sancho can ngăn giải thích , y thúc ngựa vung giáo xông vào đâm . Gặp cơn gió mạnh , cối quay mạnh ,  bẻ gãy cây giáo và quật y ngã lăn bầm dập

Lại gặp một đoàn tù khổ sai đang bị lính dẫn đi , y động lòng , phẫn nộ thấy cảnh con người bị tước đoạt tự do . Y xông vào tấn công tên lính , đám tù nhân chớp cơ hội bỏ chạy thoát thân . Còn y bị tên lính đánh nhừ tử Lát sau những tù nhân  quay lại tìm y săn sóc và cảm tạ ân nhân . Nhà hiệp sĩ yêu cầu họ hứa tìm đến làng Tobozo gặp công nương Duncine để cảm tạ và báo công trạng cho y . Bọn họ từ chối , y nổi giận xỉ mắng họ . Tù nhân phần lớn là dân lưu manh côn đồ tướng cướp nổi giận đánh y một trận nữa rồi bỏ đi . ( Ngoài ra y còn gây nhiều cuộc ẩu đả khác và phần lớn đều thua cuộc ) . Cô cháu gái đã nhờ người dùng sức mạnh và mưu kế bắt y vào cũi , chở về nhà .

 Nghỉ ở nhà ít lâu , hai thầy trò lại lên đường lần thứ ba . Nhiều trò điên rồ kì quặc lại xảy ra Lần này bác thợ cày được cử làm tổng trấn một hòn đảo , đúng như lời hứa ban đầu của hiệp sĩ Quijote . Đó chỉ là cuộc bày trò  vui của hai vợ chồng t quận công nọ trong thời gian hai thầy trò đến lãnh địa của họ .

Một lần nữa, gia đình và bè bạn lại dùng mưu kế buộc nhà quí tộc già Kijana phải từ bỏ con đường hiệp sĩ giang hồ . Một anh cháu họ đóng giả hiệp sĩ với biệt danh ” Vừng trăng bạc ” , đón gặp nhà hiệp sĩ lừng danh ” Mặt buồn ” ( tức Don Quijote ) . Anh thách đấu với điều kiện : nếu thua trận anh sẽ tự nguyện làm hầu cận dắt ngựa cho hiệp sĩ ( thay bác Pancha đã bỏ chức tổng trấn về quê sau khi không thể làm được chức vụ ấy vì dốt nát – nhưng bác cũng vớ được một ít của cải nhỏ mang về cho vợ ). Còn nếu hiệp sĩ thua trận sẽ phải thề từ bỏ giang hồ trở về nhà . Cuộc đấu diễn ra , hiệp sĩ Mặt Buồn già yếu thua trận , y đành phải giữ lời hứa danh dự của hiệp sĩ quay về nhà . Buồn bã khọn nguôi vì lí tưởng hiệp sĩ bỏ dở , y lăn ra bệnh trong nỗi buồn rầu khôn nguôi . Nằm trên giường bệnh y nghĩ lại ba lần giang hồ và nhận ra tác hại của tiểu thuyết hiệp sĩ . Biết mình sức đã tàn, y  viết chúc thư phân phối tài sản cho cô cháu gái và bác nông dân Pancha. Vài ngày sau Don Quijote từ giã cuộc đời .

 sưu tầm

( có vẻ như phần này chú trọng Mười ngày và Donkihote nhất nên mình chỉ post mục này thôi )

CHƯƠNG VII -  VĂN HỌC PHỤC HƯNG ANH

NƯỚC ANH BƯỚC VÀO THỜI ĐẠI PHỤC HƯNG muộn hơn so với Ý, Pháp,Tây ban nha và các nước Tây Âu khác. Bởi trong hai thế kỉ 14 và 15 nước Anh mắc vào hai cuộc chiến tranh: chiến tranh 100 năm với Pháp tuy không diễn ra trên đất Anh nhưng cũng làm đất nước này kiệt quệ. Hai năm sau khi kết thúc cuộc chiến với Pháp, nước Anh lại xảy ra nội chiến kéo dài 30 năm- gọi là chiến tranh “hai hoa hồng” do hai tập đoàn phong kiến York và Lancaster (biểu tượng hoa hồng trắng và đỏ) tranh giành quyền thống trị. Cuối cùng cả hai đều kiệt sức. Dòng họ Thewdor thừa cơ nhảy lên nắm chính quyền. Đến cuối thế kỉ 16, nước Anh mới có thể tập trung ổn định xây dựng đất nước, mở mang văn hóa.

Xu thế lịch sử ở châu Âu bấy giờ là tiến tới chủ nghĩa tư bản, nước Anh cũng vậy. Từ thế kỉ 16 nước Anh mau chóng đuổi kịp và vượt những nước đi trước. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa từng bước hình thành phát triển ở miền Nam nước Anh. nơi đây có truyền thống công thương nghiệp với mặt hàng len dạ xuất khẩu , kéo theo sự phát triển nghề chăn nuôi cừu. Bọn địa chủ mới được nhà vua hỗ trợ bằng các đạo luật đã rào đất cướp ruộng, xua đuổi hàng ngàn nông dân ra khỏi làng quê, chiềm đất làm bãi cỏ nuôi cừu . Nông dân đi lang thang  kiếm sống đầy đường xá, rồi bị hút về những xí nghiệp, công trường với đồng lương rẻ mạt. Nhà nước ban đạo luật “cấm lang thang”để tiếp tay cho giới chủ công thương. (Dưới triều vua Henry III 1509 -1547, cha của nữ hoàng Elisabeth I 1558-1603 – đã có 72000 người dân lang thang bị giết hại dã man: nung sắt đỏ dí bả vai, tái phạm bị chặt đầu hoặc treo cổ). Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, đặc biệt năm 1607 lôi cuốn cả miển Trung nước Anh và bị dìm trong máu lựa. Nước Anh thời  hakespeare tua tủa những giá treo cổ và thớt chặt đầu. Thợ thủ công bị rút kiệt sức trong hầm mỏ, công trường. Ngày làm việc không giới hạn từ 12 đến 14 giờ , tiền công rẻ mạt. Nữ nhận tiền công ít hơn nam, thợ học việc không có lương. Khi nông dân khởi nghĩa có công nhân hỗ trợ. Còn giai cấp tư sản và quí tộc mới lên đã ủng hộ nhà vua chống lại các lãnh chúa địa phương nhằm thống nhất đất nước, thống nhất thị trường và bành trướng thế lực ra nước ngoài.

Kết quả là dưới thời Thewdor, nước Anh trở thành quốc gia thống nhất. Đến thời Nữ hoàng Elisabeth I, nước Anh trở thành cường quốc cạnh tranh với Tây ban nha -nước mạnh nhất thời đó. Sau khi đánh thắng hạm đội Tây ban nha 1588, Anh trở thành bá chủ Đại Tây Dương, từ đó giao thông buôn bán, mở thêm thị trường và thuộc địa của Anh càng phát đạt .
Các sử gia Anh thường ca ngợi thời kì này  là  thời kì “The Merry England” khi nó trở thành cường quốc số 1 của châu Âu. Hạm đội Anh dẫn đầu các thuyền buôn đi khắp các châu Mĩ Á Phi. Vàng bạc của cải trên các thuyền tàu Tây ban nha, Bồ Đào nha từ châu Mĩ trở về bị tàu Anh cướp lại khá nhiều. Thị trường Anh sầm uất, đất nước phồn vinh. London thủ đô Anh trở thành trung tâm văn minh của cả châu Âu.

Triết học, kinh tế học, khoa học tự nhiên, kĩ thuật và văn học nghệ thuật Anh vuợt lên địa vị tiên tiến ở châu Âu. Tuy nhiên đằng sau bộ mặt vui vẻ phồn vinh đó là những biến động dữ dội của sự quá độ lên chủ nghĩa tư bản chứa đầy mâu thuẫn giai cấp gay gắt săn sàng bùng nổ. Cũng không nên quên rằng sự phồn vinh ấy dựa trên máu và nước mắt của dân chúng thợ thuyền Anh nữa, ấy là chưa kể đồ ăn cướp và bóc lột thuộc địa .
VĂN HÓA PHỤC HƯNG ANH ra đời muộn trong bối cảnh nói trên nhưng khi bùng phát thì nó lại đạt thành tựu lớn như đà tăng trưởng nhanh của nền kinh tế nước này. Nhìn chung nó cũng mang những tính chất Phục Hưng như các nước Tây Âu khác ở lục địa:
+ tinh thần chống chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa giáo điều kinh viện trung cổ nhằm giải phóng trí tuệ  con người
            + tinh thần khẳng định cuộc sống trần thế
            + tinh thần đòi hỏi tự do cá nhân
            + niềm phấn khởi trước chân trời rộng mở của khoa học ( thiên văn địa lí …)
            + niềm say mê vẻ đẹp của những tác phẩm cổ đại Hi Lạp  vừa được phát hiện .

Bên cạnh những tính chung, văn học Phục Hưng  Anh còn có những nét riêng của đất nước và lịch sử Anh, truyền thống văn nghệ Anh chi phối. Mâu thuẫn nội bộ giai cấp Anh – một quốc gia tư bản điển hình là gay gắt nhất. Ở đây sự cạnh tranh, phân biệt phân hóa giàu nghèo ghê gớm, sự lộng hành của đồng tiền và tội lỗi, lương tâm nhân phẩm bị thử thách dữ dội, cuộc đấu tranh thật khốc liệt .

Hơn đâu hết, ở nước Anh hai mặt tươi sáng  và đen tối tương phản  đối lập nhau rõ rệt . Để phản ánh sự đối lập  và mâu thuẫn gay gắt ấy, văn học Anh đã tìm thấy thể loại kịch đáp ứng tốt hơn cả. Nước Anh vốn có truyền thống kịch dân gian lâu đời từ thời trung cổ . Dòng kịch tôn giáo và kịch dân giã đã từng phát triển tuy còn thô sơ nhưng cũng phần nào đáp ứng dân chúng. cuối thời trung cổ, kịch tôn giáo mờ nhạt tính thần bí nhường chỗ cho luân lí đạo đức .

Sang thế kỉ 15, các tác phẩm văn nghệ Hi Lạp La mã và Phục Hưng Ý, Tây ban nha lan toả đến nước Anh. Nền kịch Anh học tập được rất nhiều ở hai nguồn này, nhất là nguồn bi kịch và hài kịch. Trong khoảng từ 1580- 1642 sân khấu Anh sôi động chưa từng thấy  . Nhiều tác giả, nhiều xu hướng đua nhau nảy nở. Thủ đô London lúc ấy có hai trăm nghìn dân mà có đến 10 rạp hát. Những rạp lớn chứa được cả nghìn người, như rạp The Swan  (Thiên Nga), rạp The Globe (Địa Cầu) có thể chứa 3000 chỗ  kể cả đứng. Rạp hát  phân ra nhiều hạng vé, thường diễn vào buổi chiều.

Trước khi nhà thơ Shakespeare chiếm lĩnh sân khấu Anh thì hai nhà soạn kịch Keat và Maclove là hai tác gỉa lớn nhất trên kịch trường Anh. Shakespeare tiếp thu cả hai ông và sáng tạo một phong cách nghệ thuật  kịch đặc sắc làm rạng rỡ nền kịch Anh và kết thúc giai đoạn cuối Phục Hưng Tây Âu.

Văn học phương Tây ( Bi kịch Hy Lạp )

BI KỊCH HI LẠP

Bi kịch Hi Lạp là một vẻ đẹp đặc sắc của Hi Lạp cổ đại, là một thành tựu quan trọng vào bậc nhất của nền văn học này. Bi kịch là một bước phát triển cao của nghệ thuật  thi ca Hi Lạp  (Mĩ học- Hegel) ra đời trong khoảng thế kỉ thứ 6 đến thế kỉ 4 trước C.N- thời kì hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ.
Thành bang Athens là nơi khai sinh những khúc hát dithyrambe- nguồn gốc của bi kịch, nơi chứng kiến những cuộc xung đột giũa tầng lớp quí tộc cầm quyền và nhân dân lao động. Ngoài ra còn có mâu thuẫn giữa tầng lớp quí tộc ruộng đất bảo thủ chuyên chế và tầng lớp chủ nô công thương đối lập với tầng lớp dân tự do theo trào lưu tự do dân chủ.
Đây là thời kì nền văn hóa Athens phát triển toàn diện. Những ngôi đền thờ thần linh xây bằng đá cẩm thạch trắng, tượng ngà voi và vàng (pho tượng Zeus và Athena), hoặc đúc bằng đồng đồ sộ. Đồ gốm có những bức họa vẽ điển tích thần thoại. Thời kì thịnh vượng này bị quân xâm lược Ba Tư nhiều lần xâm lược. Dân chúng phải đổ bao xương máu để trả giá cho sự thịnh vượng của thành Athens. Nơi đây cũng là trung tâm nảy sinh mâu thuẫn xung đột xã hội. Đất nước Hi Lạp  đạt bước phát triển cao về mọi mặt kinh tế chính trị,  quân sự và văn hóa. Tuy vậy, để đạt được bước tiến đó nhân dân Hi Lạp  và nhân loại nói chung phải trả giá khá đắt vì đây làsự mở đầu kỉ nguyên đau khổ của nhân loại. Biết bao tấn bi kịch xã hội nảy sinh. Văn học nghệ thuật phải sáng tạo một loại hình nghệ thuật  mới để phản ánh những xung đột gay gắt không thể hòa hoãn- đó là bi kịch .
Thể loại bi kịch thỏa mãn nhu cầu cuộc sống tinh thần của lớp người đã có tư tưởng tự do – dân chủ, đã biết ý thức  về vai trò của cá nhân đối với thế giới, với cuộc sống xã hội. Họ suy tư trăn trở về cuộc đấu tranh của con người thời đại, sẽ phải gồng mình lên đương đầu với số mệnh, với cuộc sống và chấp nhận sự đụng độ một mất một còn. Các lực lượng xã hội mới tiến bộ như quí tộc công thương, thợ thủ công, tiểu chủ đã nắm lấy bi kịch như một vũ khí đấu tranh chống lại giai cấp quí tộc ruộng đất để khẳng định khát vọng dân chủ của mình. Biểu hiện đầu tiên là việc thờ cúng thần Rượu nho Dionisote ngày càng phổ biến lấn át các vị thần khác Thần Rượu nho đem lại lợi ích cho giới công thương và tiểu chủ và cho cả đất nước Hi Lạp. Đến thế kỉ 6 trước C.N tiếm vương Pidisterate cho mở lễ hội lớn cúng Thần Rượu Nho hàng năm. Vở bi kịch đầu tiên ra mắt công chúng với nội dung thuật lại cuộc đời gian truân, đau khổ của Dionisote.Từ đề tài thần Dionisote, các nhà soạn kịch mở rộng ra nhiều nhân vật khác nữa.
Ban đầu, vở diễn chỉ có một dàn đồng ca, sau đó một diễn viên tách ra ứng diễn trả lời, đáp lại những lời hát của dàn đồng ca. Dần dần số diễn viên tách ra ngày càng nhiều hơn . Người ta còn đeo mặt nạ cho diễn viên .
Mỗi năm nhà vua mở cuộc thi diễn kịch. Mỗi tác giả dự thi bộ ba vở bi kịch và một vở hài kịch nhỏ. Số vở kịch còn sưu tầm được ngày nay chỉ là số nhỏ còn sót lại .
GIỚI THIỆU BA TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

1 . ESCHYLE VÀPROMETHE  BỊ XIỀNG
Eschyle (525 – 456 tr.C.N)  là cha đẻ của bi kịch cổ đại Hi Lạp (nhận xét của Engels)  Ông là nhà thơ của thời kì dân chủ hình thành với những xung đột gay gắt của nó. Là thi sĩ và cũng là chiến sĩ trong ba trận chiến thắng lừng lẫy của người Hi Lạp: trận Maraton, trận Salamin và Plate. Ông đã viết tất cả 90 vở kịch, nay chỉ còn lại 7 vở
Các vở Bảy tướng đánh thành Thebes,  Quân Ba Tư, Oresti, Agamennon, Các nữ thần ân đức, Những người thiếu nữ cầu xin, Những người phụ nữ mang đồ tế lễ .v.v..
Vở bi kịch “Promethe bị xiềng“ (có thể viết năm 469 ?) là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và là vở tiêu biểu cho giai đoạn đầu của bi kịch Hi Lạp. Cốt truyện cũng mượn từ thần thoại  Hi Lạp nhưng chỉ xoay quanh phần  xung đột quyết liệt nhất
Vị thần Promethe là hiện thân của lí trí, thắng lợi đầu tiên của con người khi tìm ra lửa .
Promethe là một thần titan (khổng lồ) xuất hiện ở đầu vở kịch như một kẻ phạm tội ăn cắp lửa của trời đem cho loài người. Đó là hành động vô cùng cao cả  đưa loài người ra khỏi tối tăm ngu muội và họa diệt chủng, lại tiếp tục nâng con người lên giai đoạn văn minh
Chàng nói:“loài người khốn khổ kia, hắn (thần Zeus) không hề bận tâm nghĩ đến các người. Hắn còn muốn tiêu diệt loài người để tạo ra giống loài khác. Thế mà không một ai phản đối trừ ta. Ta đã cố tình phạm tội, chính vì muốn cứu vớt loài người, ta đã tự chuốc lấy đau khổ hôm nay“
Hình tượng Promethe – người chiến sĩ với khát vọng cháy bỏng về tự do và đấu tranh đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho Karl Marx (Các Mác) viết luận văn tiến sĩ triết học của mình. Theo lời Marx “triết học xưa nay bao giờ cũng đấu tranh cho Tự do của loài người, do đó Promethe là vị thánh đầu tiên, người tuẫn tiết đầu tiên trong lịch sử triết học“ .
Là người chiến sĩ đấu tranh cho Tự do mà “tự do là sự nhận biết cái tất yếu“ (Marx), Promethe đã chỉ ra rằng “ông vua đương vị ấy rồi đây sẽ bị tống cổ một cách nhục nhã“ . Nghĩ về bản thân mình, Promethe cũng ý thức được rằng:”đã là kẻ thù thì phải chịu đựng sự ngược đãi của kẻ thù, điều đó chẳng có gì xấu xa“ .
(ghi chú: Promethe nguyên gốc tiếng Hi Lạ Promethens nghĩa là: tiên tri )
Đây là vở kịch thứ hai trong bộ ba: Promethe người mang lửa, Promethe bị xiềng và Promethe được giải phón . Vở thứ nhất và vở thứ ba mang dáng dấp anh hùng ca, riêng vở thứ hai mở ra thể loại bi kịch nên chúng ta chỉ nghiên cứu vở này.
NHÂN VẬT
Thần Quyền Lực
Thần Bạo Lực
Hephaistote: Thần Thợ Rèn
Promethe
Pozeidon (hoặc Neptun): Thần đại dương
Mười vị  nữ thần
Hecmet : Thần Truyền Tin
Đội Đồng Ca: gồm các nàng Osealite.


2. SOPHOCLE   VÀ   “EUDIPE LÀM VUA
Sophocle (496 – 406) được mệnh danh là “nhà thơ của thời kì dân chủ cực thịnh“
Ông là người am hiểu nghệ thuật kịch hơn ai hết và muốn kịch phải thực sự là hình ảnh của cuộc sống. Với kịch, ông đã tạo ra những “đòn sấm sét tâm lý”, những đám cháy lương tâm“ hết sức hồi hộp và hứng thú. Sophocle đã đưa bi kịch lên tới mức hoàn mĩ của thể loại bi kịch phức tạp (nhận xét của Aristote – Poetics). Nhân vật của ông là những nhân vật lí tưởng – “những con người cần phải như thế”. Sáng tác của ông gồm 120 vở, trong đó 24 vở đạt giải nhất quốc gia, nay chỉ còn lại 7 vở. Tiêu biểu nhất là vở “Eudipe làm vua” “Angtigon” là vở kịch bằng thơ, khai thác đề tài từ truyền thuyết về thành Tebơ. Trong cuộc chiến tranh giữa Acgôx và Tebơ, hai người anh ruột của Angtigon đều tử trận. Theo huyết thống Crêông lên thay Êtêôclơ trị vì thành Tebơ. Sau khi lên thay Crêông không cho bất cứ ai chôn cất thi hài Polinix. Xót tình máu mủ, Angtigon một mình làm những nghi lễ mai táng cho anh. Sau đó nàng bị bắt và Crêông quyết trừng phạt nàng bằng cách giam nàng vào trong ngôi nhà mồ của dòng họ nàng. Bất bình trước việc làm tàn ác của cha đối với người vợ sắp cưới của mình nên Hêmông ra sức khuyên can cha nhưng không được. Cuối cùng khi Crêông ra lệnh phóng thích Angtigon thì nàng đã thắt cổ tự vẫn. Hêmông cũng kết thúc đời mình bên xác người yêu. Ơrydix- mẹ của Hêmông sau khi biết tai hoạ nói trên cũng dùng kiếm tự sát.Vở kịch kết thúc bằng sự nhận ra lỗi lầm của Crêông.
Kịch của Sophocle đa dạng về mặt đề tài, phong phú về mặt nội dung và giàu tính triết lý. Xung đột xảy ra thường là những con người cao quý trọng danh dự, giàu tình nghĩa và giàu tính nhân bản với những thế lực độc đoán, bạo tàn. Mở đầu vở kịch, Angtigon bộc lộ ý định chôn cất thi hài người anh với lời lẽ hết sức cảm động khi nói với đứa em của mình :”Chồng này chết đi, em còn lấy được chồng khác và sinh con đẻ cái với người ta, còn cha mẹ chúng ta đã chết rồi, làm sao còn sinh cho em một người anh khác nữa”.
Trước thái độ tàn nhẫn của Crêông, nàng nói:”Tôi sống để yêu thương chứ không phải sống để căm thù”. Xung đột giữa Angtigon và Crêông theo Hêghen thì “đó là xung đột giữa lợi ích gia đình và lợi ích quốc gia”, nói một cách khác đó là xung đột giữa đạo lý và pháp lý. Vậy giữa hai cái đó đâu là chân lý. Ta hãy nghe Hêmông- người yêu của Angtigon đồng thời là con của Crêông biện luận trong cuộc đối thoại sau :
Crêông (C) : Thế con kia không phản nghịch là gì ?
Hêmông (H) : Tất cả nhân dân thành Thebes  này không ai nghĩ rằng  nàng như vậy cả.
C : Thế ra ta phải tuân theo mệnh lệnh của nhân dân thành bang này hay sao?
H : Cha trả lời hệt như trẻ con. Chắc cha cũng biết thế ?
C : Vậy ta cai trị đô thị này cho một người khác hay sao ?
H : Không có quốc gia nào là của riêng một người nào cả !
C : Một đô thị không phải là của một người đứng đầu thì là của ai ?
H : Nếu đô thị ấy không có người thì cha cai trị ai ?
C : À té ra thằng này bênh vực cho đàn bà nhỉ ?
H : Thưa cha, nếu cha là người đàn bà, thì chính con là người bênh vực đàn bà, vì ở đây con chỉ biết có bênh vực cha thôi !
C : Đồ bất hiếu ! Mày dám buộc tội cha mày à?
H : Bởi vì con thấy cha xúc phạm đến Thần công lý?
Luật pháp mà Hêmông và Angtigon bảo vệ là luật pháp của thần công lý. Đó là luật pháp được nhân dân lưu truyền và gìn giữ. Nó là luật pháp nhân đạo và đó là chân lý vì nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Ý nghĩa đích thực của hình tượng Angtigon là ở chỗ đấu tranh cho sự khẳng định chân lý đó.
Khác với Eschile miêu tả thế giới thần linh với các mâu thuẫn và những ý chí chi phối cuộc sống con người, bi kịch của Sophocle miêu tả thế giới con người với những đau khổ, buồn vui do chính bản thân họ gây nên. Sophocle đã kéo bi kịch từ “trên trời xuống hạ giới”. Thể hiện ở chỗ ông để cho nhân vật của mình hành động hoàn toàn độc lập và chịu trách nhiệm về số phận của mình. Các vị thần linh trong kịch của ông bị đẩy lùi ra phía sau sân khấu. Bi kịch ở đây hoàn toàn do con người gây nên. Angtigon có kết cấu rất chặt chẽ, hành động thống nhất, đối thoại sắc xảo, giàu xung đột kịch tính là điểm nổi bật tài năng Sophocle.

Trước khi phân tích vở kịch này, chúng ta hãy nghiên cứu những đặc trưng bi kịch mà đến giai đoạn Sophocle nó mới định hình và đạt tới tác phẩmbi kịch mẫu mực .
Bi kịch là thể loại có truyền thống lâu đời . Theo dòng lịch sử, nó tiếp tục không ngừng phát triển qua từng giai đoạn, thậm chí đổi mới ở từng tác phẩm lớn .
Bi kịch hiện đại vẫn còn kế thừa tinh hoa của bi kịch truyền thống. Bởi vì thể loại cũng có  “kí ức“, nó không quên cội nguồn đã sinh ra nó.
Bi kịch Hi Lạp là sản phẩm văn hóa của nền dân chủ – chủ nô Athens. Do đó khi chế độ này chấm dứt vai trò lịch sử của nó thì bi kịch cũng rút lui.
Tuy nhiên, giá trị tư tưởng – nghệ thuật  của nó là bất diệt, tiếp tục được kế thừa  trong tất cả bi kịch của những thời đại sau đến tận ngày nay .
Bi kịch tạo ra được hiệu quả thẩm mĩ là “thanh lọc tình cảm thông qua xót thương và sợ hãi“.(Poetics – Aristote. Sự xót thương nảy sinh khi vở kịch trình bày cảnh người vô tội chịu điều bất hạnh, và sợ hãi nảy sinh khi thấy một người giống như ta lại gặp điều bất hạnh”.
Bi kịch là sự bắt chước một hành động hoàn chỉnh, nó cố hết sức mình để kết thúc  trong vòng một ngày , xảy ra ở một nơi và xoay quanh một hành động chính – đó là quy tắc “tam duy nhất“ mà Aristote đã đúc kết qua nhiều vở kịch thành công.
Có ba lí do chọn vở “Eudipe làm vua” làm tác phẩm bi kịch mẫu mực:
Đề tài và sự tích vua Eudipe có ý nghĩa đặc biệt  trong lịch sử văn học châu Âu. Hầu như trong giai đoạn nào cũng có tác giả lớn tìm đến đề tài này mà tiếp tục khai thác. Ngay thời cổ đại, cả ba tác giả lớn chứ không riêng Sophocle sáng tác về vua Eudipe .
Trong cuốn Thi pháp (Poetics) của Aristote, vở kịch này được nhắc đến nhiều nhất, góp phần khẳng định lí luận về bi kịch. Về sau, nhà soạn kịch Pháp thế kỉ 17 Corneill và nhiều nhà soạn kịch Tây Âu đều phải công nhận vở “Eudipe làm vua” là “hiện thân tuyệt đối của tư tưởng thể loại”.
Vở kịch dựa theo  “Truyền thuyết cổ xưa về vua Eudipe“ lưu hành với nhiều dị bản .
Nguyên văn tựa đề là:  Eudipe – tiranos (nghĩa là Eudipe – kẻ tiếm quyền).
Tóm tắt truyển thuyết như sau:
Các vị thần linh phán truyền lệnh cấm vua Laios và hoàng hậu Jocaste ở thành Thebes sinh con nối dõi. Nếu trái lệnh thần linh, đứa con sẽ phạm tội giết cha lấy mẹ Nhưng họ lại lỡ sinh được một đứa con trai. Hoảng sợ, hai người sai một đầy tớ đem đứa bé vào rừng sâu vứt bỏ. Đứa bé bị xâu chân bằng một sợi dây thép nên chân sưng tấy lên, người đầy tớ gọi là thằng bé Eudipe (nghĩa là chân sưng). May thay anh đầy tớ động lòng thương đứa bé nên giao cho một người chăn cừu ở xứ Corinte láng giềng đem đứa bé làm con nuôi đi biệt tích.Người chăn cừu đem đứa bé sang nước láng giềng Corinte rồi đem dâng cho vua và hoàng hậu không có con để làm con nuôi .Họ rất mừng, nuôi đứa bé nuông chiều hết mực, cho học hành luyện tập trở thành một hoàng tử tài giỏi. Eudipe lớn lên không hề biết rõ nguồn gốc thực sự của mình.
Tình cờ trong một buổi tiệc rượu , một viên quan say rượu đã nói chàng không phải con đẻ của nhà vua . Chàng buồn bã hỏi cha mẹ . Mọi người đều khẳng định chàng là hoàng tử ruột . Vẫn còn hoài nghi , chàng vào đền thờ thần hỏi về nguồn gốc của mình . Vị thần trả lời “ ngươi sẽ giết cha và cưới mẹ . Kinh hoàng vì lời phán truyền , Eudipe lẳng lặng bỏ xứ Corinte ra đi để tránh lời nguyền. Đến một đoạn đường hẹp, chàng gặp một cỗ xe ngựa có lính hộ tống một ông già ngồi trên xe. Đám lính hách dịch quát mắng chàng phải tránh đướng cho xe qua. Chàng nổi giận đánh trả những tên lính thô bạo và giết chết toàn bộ đoàn xe trừ một người hầu nhanh chân bỏ chạy thoát thân .Người ngồi trên xe chính là vua Laios , còn người chạy thoát lại là lão đầy tớ ngày xưa đã đem Eudipe vào rừng .
Chàng Eudipe tiếp tục cuộc hành trình hướng về thành Thebes định mệnh .Lúc này thành Thebes gặp tai họa liên tiếp. Vua vừa bị một đám cướp giết chết  theo lời người đầy tớ thoát thân về thuật lại) thì xuất hiện một con quái vật tên là Sphinx . Nó là một con nhân sư – thân mình sư tử đầu người khuôn mặt khá giống phụ nữ.Nó đứng ở ngã ba đường chặn cửa vào thành Thebes đưa ra câu đố : “Con gì sáng đi bốn chân, trưa di hai chân, chiều đi ba chân ? “.Ai không trả lời đúng bị  nó ăn thịt. Nhiều người dân thành Thebes đã bị nó giết hại. Hoàng hậu vừa góa chồng đành phải ra thông cáo tìm người tài giỏi giải đáp câu đố của con quái vật, ai đáp được sẽ nhường ngôi vua. Eudipe nghe thông báo liền nhận lời . Chàng gặp con Sphinx và trả lời – “đó là con người“. Con quái vật xấu hổ chịu thua và biến mất .
Dân chúng thành Thebes thoát nạn, hoàng hậu giữ lời cam kết, đưa Eudipe lên làm vu . Chàng hoàng tử lang thang nhờ trí tuệ bước thẳng lên đỉnh vinh quang và quyền lực. Và khoảng cách từ chiếc ngai vàng đến cái giường của hoàng hậu chẳng bao xa, vua trẻ Eudipe đã cưới hoàng hậu Jocast. Họ sống hạnh phúc, sinh hai trai hai gái .
Cốt truyện kịch chỉ bắt đầu từ đây:
Một tai họa mới giáng xuống dân chúng thành Thebes: mất mùa trồng trọt, gia súc chết toi, đàn bà không sinh nở được. Dân chúng chỉ còn trông chờ trí tuệ siêu phàm của nhà vua trẻ tài ba Eudipe cứu dân. Thần linh phán truyền rằng tai họa đó là sự trừng phạt thành Thebes phạm tội đang chứa chấp kẻ giết vua Laios . Muốn tránh khỏi tai họa phải tìm ra và trừng trị kẻ sát nhân. Vua Eudipe quyết tâm truy tìm thủ phạm. Nhà tiên tri mù Tiretias được vua mời đến. Lúc đầu ông từ chối trả lời, sau bị vua ép quá ông buộc phải nói ra sự thật – chính Eudipe là thủ phạm! Nhà vua nổi giận trước sự tố giác quá bất ngờ . Nhưng điều đó khiến Eudipe trăn trở suy tư tìm hiểu lai lịch của mình. Tình cờ người chăn cừu ngày xưa xuất hiện, thuật lại những sự kiện trước đây , khiến Eudipe càng nghi ngờ lai lịch của mình … Người đầy tớ già bị ép phải nói sự thật, và ông lão đã thú nhận mọi chuyện ngày xư . Trong quá trình điều tra, hoàng hậu Jocaste đã đoán biết sự thật nên lo sợ mà can ngăn vua thôi không điều tra nữa. Nhung vua  quyết tâm đi đến cùng . Khi sự thật được sáng tỏ, hoàng hậu đã thắt cổ tự vẫn. Trước thi hài của hoàng hậ , vua Eudipe rút cây trâm tự chọc thủng đôi mắt mình để tự trừng phạt thủ phạm.  Rồi chàng bỏ kinh thành Thebes ra đi tự lưu đày tha phương.  Vở bi kịch kết thúc.
Truyền thuyết còn kể thêm đoạn chót. Một trong hai con gái của họ đã tự nguyện theo cha đi lang thang để săn sóc người cha mù lòa. Cuối cùng, nhà vua Eudipe chết rụi  ở một xó rừng.
Cũng như những tác phẩm lớn, “Eudipe làm vua” lung linh nhiều tầng ý nghĩa. Trải qua mỗi thời đại, người ta lại phát hiện những ý nghĩa mới, sự tranh luận không bao giờ cạn
1) Quan điểm phê bình truyền thống cho rằng vở kịch nhấn mạnh tư tưởng về sự phù phiếm của vinh quang và sự mỏng manh của hạnh phúc đời người. Quan điểm của giới văn học bi quan cho rằng vở bi kịch này chỉ là sự ý thức về cái phù phiếm của con người. Họ bám chặt những lời ca của dàn hợp xướng: “Ôi  hỡi con người tội nghiệp ! Thế hệ này qua thế hệ khá , ta chỉ thấy ở các người một sự hư vô ”.
Họ căn cứ vào lời hát kết thúc của dàn đồng ca hợp xướng:”Vinh quang của thành công như ánh hào quang mặt trời chói lọi nhưng rồi sẽ tắt lịm khi trời đã về chiều“. Vua Eudipe đã đạt tới tột đỉnh vinh quang hạnh phúc mà phút chốc tất cả đổ sụp .Eudipe thấm thía nỗi cay đắng của bất hạnh. Số phận con người như chiếc thuyền lênh đênh trên biển rộng. Con thuyền Eudipe ghé vào thành Thebes, rồi ghé vào giường hoàng hậu, tưởng rằng đó là nơi yên ổn. Nào ngờ chính nơi ấy là vực thẳm. Nhiều nhà văn lớn về sau cũng có cách nhìn hiện thực cuộc sống một cách tỉnh táo như vậy. Con người duy trì và xây dựng cuộc sống với bao lo toan và nỗ lực nhằm tạo ra những giá trị thực đóng góp cho cuộc sống. Nỗ lực tìm tòi chân lí  theo nghĩa rộng bao gồm cả cái Đẹp và cái Thiện.
Dù sao tác phẩm này vẫn có ý thức xây dựng chứ không phải như những tác phẩm hiện đại theo chủ nghĩa hư vô phù phiếm suy đồi.
Phê phán quan điểm suy đồi:
Những triết gia và thi sĩ suy đồi đời sau đã coi lời hát ấy là tư tưởng chủ đạo của tác phẩm . Sai lầm của họ là đem tách “một lời hát – một chi tiết“ ra khỏi toàn cảnh mà quên tập trung nghiên cứu tác phẩm như một chỉnh thể, nhất là cần phải chú ý đến cao trào xung đột  .  Đấy chỉ là một thói thường của người đời: lẩy ra một đôi câu văn, câu thơ  từ một  tác phẩm nào đó để áp dụng  cho những cảnh đời khác theo lối “tư biện“ .
Vở bi kịch “Eudipe làm vua” sẽ không phải là một kiệt tác của nhân loại nếu tư tưởng chủ đạo của nó là triết lí về sự phù phiếm của vinh quang và hạnh phúc.


2 ) Quan điểm phê bình hiện đại
Cho rằng tư tưởng về sự phù phiếm của vinh quang hạnh phúc chỉ là phụ , có một tư tưởng quan trọng hơn thể hiện trong vở bi kịch- đó là cảm hứng chân lí, cảm hứng khát khao sự thật. Ấy là chưa kể đến ước mơ của nhân dân về một minh quân của đất nước. Và bao trùm hơn nữa là triết lí về khả năng của con người trong việc khám phá thế giới và khám phá ngay bản thân mình.
Ngay ở nước ta, trong những giai đoạn trước đây, văn học chú trọng nêu cao yêu cầu đấu tranh cho Tự do hơn là yêu cầu Chân lý. Thực ra hai mục tiêu này gắn bó mật thiết với nhau. Hãy đọc lời tâm sự của nhà văn Maxim Gorki: “Sự thật là tôn giáo của người tự do, dối trá là tôn giáo của kẻ nô lệ.
Trong vở bi kịch của Sophocle, chủ đề “tìm tòi sự thật” đã được triển khai ngay từ đầu ở nhân vật chính- Eudipe. Chàng khát khao muốn biết rõ lai lịch của mình. Nhân vật phụ nhưng rất quan trọng là nhà tiên tri mù Tiretias đã không sợ sự trừng phạt, dám công bố sự thật phũ phàng.
PHÂN TÍCH HAI NHÂN VẬT TIRETIAS VÀ EUDIPE
Nhân vật Tiretias
Nhà tiên tri mù lòa có năng lực tiên tri phi thường, hiểu thấu mọi việc đã qua và thấy trước việc phải đến. Khi được triệu vào cung, ông đã chỉ ra đích danh thủ phạm giết vua. Nhà vua nổi giận la thét đe dọa. . . ông không hề nao núng và không chịu cải chính. Ông trả lời “Ta chẳng có gì phải sợ hãi vì ta  nuôi trong mình sức mạnh của chân lí“ . Ông biết sự thật và tin ở sức mạnh và uy tín của nó. Lúc đầu ông từ chối trả lời chỉ vì thương xót, tiếc rẻ một nhà vua trẻ phải đau khổ quá sớm khi nhận ra sự thật phũ phàng của y. . Lúc ấy ông không định che giấu sự thật mà chỉ vì ông tin rằng sớm muộn sự thật cũng được công bố, lúc này còn sớm quá, không nỡ lòng. . . Nhưng khi vua Eudipe nài ép, lại toan đổ tội cho ông đồng lõa với thủ phạm thì cực chẳng đã ông phải trả lời, mà khi đã nói thì ông quyết giữ lời, kiên quyết bảo vệ chân lí.
Nhân vật chính Eudipe – nhân vật bi kịch
Điều đẹp đẽ nhất của nhân vật chính Eudipe là thái độ dũng cảm của con người trước sự thật về chính bản thân mình . Nhưng trước đó, cảm hứng tìm kiếm sự thật đã phải trải qua những thử thách ghê gớm .
Lúc đầu, Eudipe sốt sắng mở cuộc điều tra với mục đích chân chính cứu dân thành Thebes khỏi tai họa do thần thánh trừng phạt . Quá trình điều tra khiến anh có thêm khao khát mới – sự thật về bản thân mình  và nỗi sợ hãi phạm  tội lỗi cũng phát sinh .
Trong mỗi giai đoạn điều tra, Eudipe đều có thể ngừng lại để xóa tội :
Khi nhà tiên tri nói ra sự thật chưa được chứng minh , Eudipe chỉ nổi giận xỉ mắng nhà tiên tri chứ không trừng phạt hoặc thủ tiêu ông ta để giấu tội.
Sau khi người chăn cừu nói ra một phần sự thật: Eudipe không phải là con đẻ của vua xứ Corinte. Ánh sáng sự thật đã le lói. Eudipe vẫn còn khả năng dập tắt hẳn. Anh  dày vò trăn trở, giằng xé. Chỉ cần vài bước nữa sẽ tới sự thật, một sự thật khủng khiếp. Anh có dám bước tiếp hay không ?. Dàn hợp ca (và khán giả nữa) lo lắng  hồi hộp theo dõi. Hoàng hậu Jocaste nhạy cảm đã can ngăn anh thôi không điều tra nữa. Có lẽ bà sợ hãi sự thật.
Eudipe đã quyết định, quyết hành động theo ý muốn da diết, khắc khoải của mình là tìm ra sự thật. Anh ra lệnh cho gọi lão đầy tớ – nhân chứng của vụ án và nhân chứng của lai lịch Eudipe buộc phải nói sự thật.
Khi lão đầy tớ ra mặt, Eudipe vẫn còn khả năng ngừng lại. Nhưng không, anh chỉ chần chừ một thoáng, rồi đi tới. Chi tiết bí ẩn cuối cùng của vụ án bật ra, tâm hồn Eudipe rơi xuống vực thẳm. Nhưng đây cũng là sự chiến thắng của chính anh- sự tự nhận thức cao cả đã hoàn thành .
Và đó chính là ý nghĩa lạc quan sâu sắc của vở kịch. Nhà thơ Sophocle có cùng quan điểm với triết gia Socrat – “người đưa triết học từ trên rời cao xuống đất” rằng: “anh hãy tự biết lấy mình.
Quá trình nhận biết của Eudipe khá gay go. Anh đã sẵn sàng đi tìm bằng được sự thật nhưng cũng muốn bám lấy một cọng rơm mong manh để giữ lấy thân mình. Đí là chi tiết lão đầy tớ khai: “một đám cướp đông đúc hung dữ đã giết vua Laios”  đã khiến anh khấp khởi mừng thầm và hi vọng mơ hồ.
Xung đột chính của vở kịch là: anh vừa muốn biết sự thật lại vừa sợ hãi nó. Do vậy anh bị giằng xé, giữa tâm lí trăn trở và tâm lí tráo trở của mình.
Từ đó chúng ta có thể nói – kết quả  anh đã giành chiến thắng. Lí tưởng đã thắng lợi nhưng anh phải tự nguyện trả giá thích đáng ở màn chót.
Chúng ta hãy đánh giá tài năng của Eudipe:
Trước hết, Eudipe có một trí tuệ siêu phàm nên đã giải đáp được câu đố hóc hiểm của con Sphinx. Đấy là một câu hỏi triết học: hỡi con người  anh là ai ?
Nhìn chung anh đã hiểu thế giới, nhưng còn một điều quan trọng thì anh mù tịt- Eudipe là ai ? Như vậy, anh là kẻ tài giỏi hay ngu dốt ?
Thật ra vở kịch trình bày hai loại trí tuệ  tương phản nhau .
Một là loại trí tuệ giúp con người hiểu biết thế giới khách quan  khám phá được bí ẩn trong thế giới bên ngoài khiến anh ta có sức mạnh và quyền lực. Trí tuệ ấy giúp anh giải được câu đố hóc hiểm của con Sphinx và giành được ngôi vua. Khoa học tự nhiên và kĩ thuật  đem lại cho con người loại trí tuệ này.
Hai là loại trí tuệ của sự hiền minh, là ánh sáng bên trong giúp con người hiểu biết thế giới chủ quan của chính mình, rồi tiến tới làm chủ bản thân mình. Kẻ nào không biết thì là kẻ ngu dố, biết mà không sống như cái trí tuệ ấy dẫn dắt là kẻ dối mình Văn học nghệ thuật  đem lại cho con người loại trí tuệ này.
Vua Eudipe đã đạt được loại trí tuệ thứ nhất nhưng mù quáng về loại thứ hai – anh chẳng hiểu gì về bản thân mình. Đó là ngọn nguồn của bi kịch.
Eudipe dẫn tới chủ đề thứ hai: tham vọng quyền lực đến mức mù quáng cũng gây ra bi kịch. Ngay cái tựa đề vở kịch “Eudipe- Tiranos” nghĩa là “Eudipe kẻ tiếm quyền“ hoặc bạo chúa Eudipe cũng đã rõ. Số phận của y là số phận một bạo chúa. Hãy nghe dàn đồng ca hát rằng
                                   Thói kiêu ngạo quá đáng đẻ ra bạo chúa
Sự kiêu ngạo trong một đầu óc say sưa
Say quá hóa rồ, sai lầm dại dột
Nó sẽ leo cao leo lên tót đính
Để rồi ngã xuống tận vực thẳm sâu .
Tội giết cha là do vô tình ngộ sát, không biết cha là ai. Tội đó không có ý ngĩa phạm tội để giành quyền lực. Dàn hợp xướng chỉ than vãn về tội loạn luân. Nhưng nếu bảo loạn luân cũng do vô tình  không biết mẹ thì Eudipe vô tội chăng ?
Hành động thắng con nhân sư, theo truyền thuyết, có liên quan đến việc cưới hoàng hậu . Con nhân sư là giống cái. Eudipe thánh con nhân sư nghĩa là hiểu biết sự bí mật của nó. Theo quan niệm cổ đại,hôn nhân, ăn nằm với ai nghĩa là đã “biết người đó“. Kinh thánh Ki tô giáo cũng nói “Adam biết Eva và nàng có mang. Khi con nhân sư biến mất , ấy là lúc nó hỏa thân ẩn mình vào hoàng hậu Jocaste. Hoàng hậu lại trở thành “câu đố mới“ thách thức chàng Eudipe. Đến màn chót, khi Eudipe giải đáp được “câu đố mới“ ấy thì hoàng hậu treo cổ – biến mất.
Hành động cười hoàng hậu có ý nghĩa quan trọng nhất. Có phải là tội loạn luân như dàn đồng ca than vãn ?
Căn cứ vào mê tín và sách giải mộng của nền văn hóa cổ Hi Lạp còn lại, giấc mộng “ăn nằm với mẹ“ được giải thích như sau. Đó là giấc mộng lành đối với những thủ lĩnh, chính khách. Mẹ có nghĩa là “đất nước” là nguồn gốc sinh ra tất cả. Nằm mộng như thế là sắp được làm vua (làm chồng đất nước, hiểu biết đất nước). Hoàng đế La Mã Caesar từng kể đã nằm mơ cưỡng hiếp mẹ  và nhà tiên tri giải thích: ngài sẽ trở thành hoàng đế .
Eudipe lấy mẹ là bắt đầu nắm quyền cai trị đất nước. Chính hoàng hậu cũng thản nhiên an ủi Eudipe khi anh nghe lời đồn đại về mình: “Trên thế gian này có bao kẻ nằm mộng ăn nằm với mẹ mình” .
Hai mẹ con tuổi tác chênh lệch quá xa, không thể cho rằng anh lấy hoàng hậu vì say đắm dục vọng. Thật ra, đó là vì danh vọng, anh đã hành động chính trị để giữ chắc ngôi vua  mà thôi  Hành động ấy là quan trọng nhất- anh phải chịu trách nhiệm và tự trừng phạt .. .
3 )   Hành động tự trừng phạt của Eudipe:
Tự chọc mù mắt có ý nghĩa gì ?
Người Hi Lạp cổ nghĩ rằng con người có hai cặp mắt. Một “cặp mắt thịt” chỉ là giác quan bên ngoài, nhìn thấy cái biểu kiến của sự vật, có khi nó gây ra nhiễu cho con mắt tâm linh ở bên trong. Con mắt bên trong mới có khả năng nhìn thấu sự vật, nắm bắt cái thần của sự vật.. Khi người ta mù mắt, như nhà tiên tri Tiretias chẳng hạn, thì lại sáng lòng (sáng mắt bên trong). Do vậy nhà tiên tri tuy mù mà biết sự thật, còn Eudipe sáng mắt lại chẳng biết gì về bản thân mình. Nhà thơ Homer tác giả hai bộ sử thi vĩ đại bị mù và bắt đầu sáng tác, mặc dù truyền thuyết kể rằng thấy ông mù lòa, nữ thần thơ ca thương tình bèn nhập vào ông. Ca sĩ Demodek mù mắt thì bắt đầu hát hay. Cũng theo truyền thuyết, triết gia Democrite tự chọc mù để nghiên cứu những cái ông chưa hiểu biết được.
Sự việc Eudipe tự chọc mù mắt góp phần chót xác định chủ đề tư tưởng vở bi kịch. Phạm tội một cách vô thức có đôi chút do tham vọng nhưng sự trừng phạt là có ý thức, tự giác cao, bảo vệ công lí. trong phạm vi xã hội, vua Eudipe sụp đổ thất bại thảm hại. Trong lĩnh vực đấu tranh vươn lên bản chất người, y đã thắng bản thân và đây là chiến thắng lớn lao. Y quằn quại đau đớn giống như một cái chết. Y  “chết đi” để sống lại- đó là ý nghĩa lạc quan sâu sắc của vở bi kịch kết thúc vô cùng bi thảm này.
Tư tưởng lạc quan chính là đặc trưng cao nhất của thể loại bi kịch.
Theo thi pháp kịch truyền thống, khi tình thế bi kịch bị phá vỡ thì xảy ra tai biến. Đó là lúc báo hiệu tột đỉnh sự tiêu vong và tột đỉnh sự thắng lợi của nhân vật bi kịch. Phần kết thúc ắt phải có đau buồn và phấn khích, có chết đi và sống lại, có bi thảm và lạc quan. Vở Eudipe làm vua là vở tiêu biểu điển hình của thể loại bi kịch vậy .
Thật vậy, ta đi ngược về ngọn nguồn bi kịch là số phận thần Rượu nho Dionisos. Theo nghi lễ tế thần,những cảnh đau khổ của thần “chết đi sống lại” bao lần.
Tư tưởng “chết đi sống lại” có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như hành động văn hóa cơ bản nhất của con người: gieo trồng. hạt giống phải chết đi để rồi sống lại với cây mầm non và ra hoa trái. Đó là khát vọng của loài ngườivề lẽ sống và ước vọng trường tồn.
Nhân vật hoàng hậu Jocaste cũng phải chịu kết cục bi thảm- khi không ngăn cản được  sự thật, bà thắt cổ tự vẫn. Trước đó, bà cũng đã có sự lớn lên về nhân cách: bà đã biết sự thật nhưng bà ngăn cản Eudipe để một mình chịu đựng bi kịch của sự ô nhục. Khi Eudipe đã biết sự thật thì bà lại không chịu đựng nổi nữa nên tìm cách tự hủy diệt. Tuy vậy bà không phải là nhân vật bi kịch. Cái chết của bà không có ý nghĩa sâu xa mà chỉ là sự chấm dứt tồn tại – tức là phi tồn tại.
Cảm hứng chủ đạo của thể bi kịch là khẳng định sự bất tử của con người, bất tử ngay ở cõi trần gian (tôn giáo chỉ cầu mong bất tử ở thiên đường . Nhân vật bi kịch có thể chết nhưng giá trị nhân bản chân chính lóe ra, ngời sáng trong sự phát triển tiếp tục của nhân loại, sẽ đi vào kí ức và kinh nghiệm của nhân dân bất tử.
Sophocle còn những vở kịch đặc sắc khác như: Antigon, Những người phụ nữ Trasi  Ajax, Eudipe ở Cologne, Philoctet, Electre .
Euripide (484 – 406) và vở bi kịch “Medee”
Euripide được mệnh danh là “nhà thơ của thời kì dân chủ suy vong”, thời kì bộc lộ bản chất xấu xa của giai cấp thống trị. Những dục vọng nổi lên mãnh liệt ở mỗi cá nhân và những mâu thuẫn mới nảy sinh trong xã hội. Nhân vật của Euripide được gọi là “nhân vật dục vọng“ luôn luôn day dứt dằn vặt vì ý đồ riêng. Họ chẳng còn là những nhân vật siêu phàm như của Eschyle, lí tưởng như của Sophocle. Bi kịch của Euripide không còn là “trường học của những tâm hồn cao cả“ mà là “phòng giải phẫu những căn bệnh xã hội“ .
Euripide viết được 90 vở, nay chỉ còn 19. Đặc sắc cách tân của ông là: lần đầu tiên đưa lên sân khấu sự phân tích tâm lí nhân vật. Ông được gọi là “nhà triết học trên sân khấu“
“Medee“ là một trong những vở bi kịch cảm động nhất, tiêu biểu nhất của thiên tài Euripide  .
Cốt truyện kịch cũng lấy từ truyền thuyết “Zadon sang xứ Consite đoạt bộ lông cừu vàng“
Nhờ sự giúp đỡ và tình yêu của Medee- công chúa xứ Consit, Zadon lấy được bộ lông cứu vàng-báu vật quốc gia mang về nộp cho ông chú Creon để đòi lại ngôi vua Hi Lạp. Medee bỏ đất nước chạy theo người yêu, dắt theo đứa em trai nhỏ. Trên đường đi, bị quân lính của vua cha truy đuổi, nàng giết em trai để cản bước những kẻ đuổi theo. Hai người về nộp bộ lông cừu vàng, ông vua chú tham lam  tráo trở yêu câu Zadon phải cưới con gái ông thì mới được nhận ngai vàng. Zadon  yêu Medee nên chối từ. Họ sống hạnh phúc bên nhau, sinh hai đứa con xinh đẹp. Một ngày kia, Zadon lại muốn giành lấy ngai vàng, liền tỏ ý muốn cưới công chúa Hi Lạp theo điều kiện của ông vua chú. Medee can ngăn, ghen tuông, giận dữ. Bị phụ tình, nàng trả thù khốc liệt. Đầu tiên, nàng dùng phép thuật giết chết kẻ tình địch (tặng chiếc khăn choàng làm thiêu cháy cả hai cha con công chúa Hi Lạp). Sau đó , nàng giết hai đứa con  rồi bỏ sang xứ khác.
Đây là vở bi kịch tình yêu vô cùng thảm khốc và đau xót. Nàng lên án Zadon  là kẻ vong ân bội nghĩa. Y ngụy biện khôn khéo để che giấu dục vọng của mình. Medee là một tính cách phụ nữ mãnh liệt từ đầu đến cuối, từ lúc nảy sinh mối tình đầu đến phút chót – nàng hóa điên .
Nhân vật chính của  tấn bi kịch là Medee. Từ dục vọng tình yêu say đắm thủy chung rất mực, khi bị phản bội, tâm lí Medee đã chuyển dạng thành dục vọng ghen tuông và trả thù dữ dội .  Nhà thơ trình bày cuộc đấu tranh nội tâm bão táp của Medee, cuộc giằng co giữa tình mẫu tử và khát vọng trả thù. Trước khi hành độn, nàng còn nói những lời xé lòng : “Các con ơi ! Hãy  đưa tay cho mẹ nắm… Ôi bàn tay thân thương, đôi môi yêu quí và mặt mày tuấn tú của các con tôi. Ôi làn da của chúng êm dịu biết nhường nào! Hơi thở của chúng  thơm tho biết bao nhiêu ! Ta không đủ can đảm nhìn con ta nữa. Ta đau đớn quá rồi. Phải, ta biết việc ta làm là tàn ác, nhưng dục vọng đã thắng ý chí ta rồi“. Kết cục của tất cả các nhân vật đều  bi thảm.
Một câu hỏi từng gây tranh luận bao lâu nay: vì sao Medee hành động tàn ác như  vậy mà nhân vật này vẫn được coi là nhân vật bi kịch ? Tạm giải thích rằng – Medee là nhân vật nhân danh phụ nữ mà hành động đòi quyền được yêu thương và chung thủy. Vở bi kịch còn là một lời  răn đáng sợ cho những kẻ bạc tình.
Euripide còn nhiều tác phẩm về người phụ nữ như: Andromac (vợ Hector), Helen (nguyên hoàng hậu Akay, chạy theo Paris sang thành Troie), Những người phụ nữ xứ Phenici , Những người đàn bà cầu xin, Iphigieni ở Olit. Những người đàn bà thành Troie, Những người con của Heracles . . .
Sự nghiệp của nhà thơ viết kịch Euripide đã kết thúc nền bi kịch Hi Lạp với những đóng góp cuối cùng – chân dung con người bình thường nổi lên với những yêu thương căm giận sục sôi nhất.


 sưu tầm
( mình học thì cô chỉ nói về Promete bị xiềng thôi ;) )

VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY ( Văn học Hy Lạp La Mã cổ đại )

VĂN HỌC HI LẠP CỔ ĐẠI

CHƯƠNG I  -  KHÁI QUÁT VỀ  ĐẤT NƯỚC VÀ NỀN VĂN HÓA CỔ ĐẠI  HI LẠP
Văn học cổ đại Hi Lạp từ lâu đã trở thành một giá trị quý giá phổ biến của toàn nhân loại . Hiếm có một thần thoại của dân tộc nào trên thế giới lại luôn luôn tái sinh, thường xuyên có mặt trong đời sống thường ngày suốt từ đò đến nay như thần thoại HL. Ngay từ thời cổ đại, thần thoại Hi Lạp đã “hóa thân” thành thần thoại La Mã, lại còn làm nền tảng và cảm hứng cho sử thi, bi kịch và nghệ thuật  tạo hình. Do công “tái chế biến» của văn hóa La Mã, ngày nay các nhân vật thần thoại Hi Lạp  tồn tại với hai tên gọi khác nhau. Văn học La Mã cũng có sáng tạo góp thêm một số sự tích, truyền thuyết.
Thần thoại là nền tảng đầu tiên  của nền văn học cổ đại Hi Lạp .
Sử thi (anh hùng ca) là thể loại rực rỡ một đi không trở lại nhưng tấm gương  của nó còn soi sáng mãi đến ngày nay .
Bi kịch cổ đại là cơ sở mẫu mực sẽ tiếp tục góp phần xây dựng kịch châu Âu suốt từ thời đại Phục Hưng trở về sau .
Trong văn chương, trên báo chí người ta sử dụng một cách phổ biến tự nhiên những thành ngữ, điển tích, hình ảnh rút ra từ văn học cổ Hi Lạp  đến mức như ngôn ngữ thông thường. Chẳng hạn “con ngựa thành Troie”, “quả táo bất hòa”, “vòng nguyệt quế”, “gót chân Achill” . . . Ngành thiên văn học đặt tên các ngôi sao bằng tên các nhân vật thần thoại Hi Lạp như Neptune,Venus, Jupiter … Ngành hàng hải đặt tên những con tàu, hòn đảo bằng tên nhân vật  Hi Lạp. Nhiều đường phố, công viên, hàng hóa, tàu vũ trụ, vũ khí đặt theo tên nhân vật Hi Lạp.
Trong ngôn ngữ của loài người, nhiều từ ngữ Hi Lạp  được sử dụng, nhiều ám dụ, tỉ dụ có nguồn gốc từ văn học cổ Hi Lạp. Văn học Hi Lạp đã trở thành những kiến thức phổ thông, là phương tiện nhận thức hiểu biết những vấn đề phức tạp khác. Khi nghiên cứu các nền văn hóa phương Tây mà thiếu vốn hiểu biết về văn học cổ Hi Lạp thì quả là khó khăn. Trong giao tiếp hoặc khi  diễn đạt tư tưởng, biết sử dụng những lối nói ấy làm cho tư tưởng mềm mại, có duyên, dễ  được chấp nhận hơn (Thần thoại Hi Lạp,Tập I – Nguyễn Văn Khoả).
Mẫu mực văn học cổ đại Hi Lạp và chủ nghĩa nhân văn Hi Lạp đã làm kinh ngạc bàng hoàng Tây Âu và đã góp phần thúc đẩy một phong trào văn hoá mệnh danh là Phục Hưng kéo dài gần ba thế kỉ, tiếp  tục ảnh hưởng sâu đậm đến các thế kỉ  sau nữa .

Nền văn hóa và văn học cổ Hi Lạp  giữ vị trí đặc biệt lớn lao và sâu sắc trong lịch sử phát triển nền văn minh tinh thần Tây Âu. Nó mở đường bằng triết học, thần thoại, sử thi, kịch, thơ, văn hùng biện, sử học, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, hội họa và gây ảnh hưởng bao trùm xuyên suốt lịch sử nghệ thuật  Tây Âu qua trung đại tới hiện đại .
Karl Marx nhận xét: “Không có cơ sở văn minh Hi Lạp cổ đại và đế quốc La Mã thì không có châu Âu hiện đại” .
Hi Lạp được coi là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại. Đó là nền văn minh đảo Cret – Misen  chấm dứt thời tiền sử chuyển sang thời đại văn minh của nhân loại .
Đảo Crete  hòn đảo lớn nhất Hi Lạp có nền văn minh rực rỡ từ khoảng năm 2500 đến 1700 tr. C.N . Nền văn minh này tỏa rộng ảnh hưởng tới tận thành bang Misen nơi có văn minh từ  năm 2000 – 1100 tr. C.N. Hai nền văn minh này chung đúc lại thành văn minh cổ đại Hi Lạp, kể từ năm 1000 Tr.C.N về sau phát triển rực rỡ huy hoàng chưa từng thấy .
Đó là thời kì chế độ chiếm hữu nô lệ – quân chủ chuyên chế  theo kiểu Trung cận đông – Ai Cập (vua chúa, tầng lớp quí tộc quân sự nhiều đặc quyền đặc lợi  và giới cầm đầu các công xã làng mạc)
Người Dorien di cư vào bán đảo Hi Lạp, tàn phá văn hóa của người Akayen. Sau đó nền văn minh Misen tỏa rộng nơi đây đã nảy sinh các thiên tài Homer, Thales, Heracles … Công cụ lao động bằng sắt, sản xuấ , thương mại phát triển mạnh quanh vùng biển Egiê . Chế độ tư hữu phát triển, phân hóa xã hội thành 5 giai cấp, chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn .
Giai cấp nô lệ chiếm đa số dân chúng, dần dần sự phản kháng gia tăng. Cuộc sống của họ phụ thuộc tuyệt đối vào giới chủ nô. Họ bị mua bán, ngược đãi tùy ý bọn chủ. Nền dân chủ Athens chỉ dành dân chủ cho công dân tự do .
Những cuộc nội chiến, xen kẽ những cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân Ba Tư xâm lược. Vua nước Macedoani (sau thuộc Nam Tư, nay lại tách ra thành Macedonia) là Alexandrer Đại đế xâm chiếm  được Hi Lạp, mở rộng bờ cõi tới Ai Cập, tạo ra đế quốc Hi Lạp, chấm dứt thời kì cổ đại .
Đặc điểm tích cực của xã hội Hi Lạp :
Phong trào dân chủ tự do được xác lập từ rất sớm cùng với sự ra đời các thành bang.
Những cuộc đấu tranh chống xâm lược bảo vệ thể chế dân chủ Athens .
Ý thức tự cường dân tộc từ khi dựng nước và giữ nước của người Hi Lạp .
Trong bối cảnh đó nảy sinh một nền nghệ thuật lớn lao, trước hết dễ nhận thấy nhất là thành tựu kiến trúc và điêu khắc tuyệt vời .
Triết học cổ đại chứng tỏ con người Hi Lạp sớm suy tư về thế giới và nguồn gốc vạn vật một cách sâu sắc.
Thiên văn, địa lí, toán học, y dược, sử học và sinh học cũng phát triển .
Đặc biệt, mĩ học ra đời góp phần đúc kết và định hướng văn- nghệ phát triển, đẩy văn học  nghệ thuật  đạt tới đỉnh cao của nó
Ba thời kì văn học cổ Hi Lạp:
Từ khi có bút tích văn học đến khi Hi Lạp trở thành chư hầu, rồi nhập vào địa phận của La Mã, văn học Hi Lạp chia ra  3 thời kì lớn.
1.Thời kì thứ nhất (thời thượng cổ), bắt đầu từ khi có những bút tích văn học đầu tiên đến thế kỷ V trước công nguyên .
2.Thời kỳ cổ điển (còn gọi Atich) từ chiến tranh Ba Tư- Hi Lạp đến thế kỷ II tr. CN .
3.Thời kỳ chủ nghĩa Helen (hoặc Alexandre) từ thế kỷ III đến thế kỷ I tr.CN.
Trước khi có văn học viết, trên đất nước «con cháu các vị thần » này đã có một nền văn chương thần thoại phong phú vào bậc nhất thế giới .Từ những chất liệu thần thoại đẹp đẽ giàu giá trị nhân văn, triết lý  này, những ca sĩ dân gian đã sáng tác những bài ca bất tử về các vị thần, các anh hùng thành bang. . . Những bài ca ấy lạI được Homer kế thừa để sáng tạo nên hai thiên anh hùng ca (sử thi) vĩ đại Illiade Odyssee .
Sau Homer, nhiều nhà thơ sáng tác về các truyền thuyết thành Troie và thành Thebes, thơ giáo huấn của Hesiode… nhưng ít có giá trị. Đặc biệt, Hesiode dùng thơ ca ngợi con ngườI lao động, những công việc đồng áng bình dị, nhọc nhằn và ý nghĩa cao quí duy trì cuộc sống của con người. Tác phẩm Công việc và tháng ngày  là tập giáo huấn con ngườI tình yêu lao động, tôn trọng công lý và truyền đạt kinh nghiệm làm ruộng chăn nuôi, đi biển . . .
Thơ trữ tình cũng phát triển vớI những tên tuổi Tiecte,Minermer, Ximonite, Pindare, Sapho … Đó là những sáng tác thô sơ đầu tiên về tình yêu của con người .
Pindare 20 tuổi đã nổi tiếng thơ, ngày nay còn bốn tập đoản ca, ca ngợi những dũng sĩ chiến thắng đại hội điền kinh ở đấu trường Olympiade, Denph, Isme, Memee. Thơ ông bày tỏ một tâm hồn cao thượng, niềm tự hào và ý chí thống nhất đất nước .
Sapho là nữ thi sĩ duy nhất mừng danh vào khoảng cuối thế kỷ VII tr.CN. Người ta gọi bà là «hiện tượng kì diệu» của thi ca và «nữ thần thơ số 10» . Tình yêu là chủ đề chính của thơ bà :
Với tôi, chàng sánh tựa thần linh
Người ngồi bên em đấy,
người tận hưởng giọng nói em êm ái
và những niềm vui.
Tiếng cười ai làm tan nát tim tôi,
Và khiến môi tôi run rẩy .
Vừa thoạt nhìn thấy mặt em
Tôi tắt nghẹn lời
lưỡi tôi khô trong miệng
Một ngọn lửa âm thầm đốt dướI làn da
Tai đâu còn nghe được nữa
mắt tôi giờ đã mù loà
Mình ướt đẫm mồ hôi
Tôi run lên lẩy bẩy
Và xanh hơn màu cỏ lá
Tôi nghĩ rằng tôi sẽ từ giã cõi đờI “
Bi kịch ra đời là do sự kết hợp sử thi và thơ trữ tình, trực  tiếp bắt nguồn từ lễ tế thần rượu nho Dionisote.Theo cuốn Poetic (thi pháp) của Aristote thì nhà viết kịch đầu tiên đưa ban đồng ca đi lưu diễn là Thespis với vở “Milet thất thủ”. Ba nhà soạn kịch tiêu biểu cho ba giai đoạn là Eschille, Sophocle và Euripide.
Hài kịch cũng phát triển với cảm hứng nảy sinh từ thể chế dân chủ, tiêu biểu là nhà viết kịch Aristophan.
Truyện ngụ ngôn của Esop- tác giả 350 truyện ngắn ngụ ngôn đặc sắc. Nhờ tài sáng tác và kể chuyện, Esop vốn là một người nô lệ xấu xí đã được chủ nô giải phóng (lão chủ nô là triết gia Samien Latmonde). Ông lên đài danh vọng nhưng cuối cùng phải chọn cái chết bi thảm vì tài năng (bị bọn buôn thần bán thánh ở đền thờ Denph kết tội báng bổ thần linh phải chịu tử hình). Những truyện quen thuộc như: Con cáo và chùm nho, Con ve và cái kiến, Con chuột và sư tử » .
Sử học với các tên tuổi Herodot, Thucidide, Senophon .
Y học có thầy thuốc Hypocrat và 10 lời thề còn mãi đến hôm nay  trong  tất cả các trường y khoa trên thế giới.
Triết học là thành tựu rực  rỡ từ thế kỉ VI tr. C.N với  nhiều triết gia lớn theo hai phái duy tâm và duy vật: Thales de Milet, một trong 7 người hiền Hi Lạp, ông là nhà bác học, triết gia, nhà toán học. Ông viết: “thế giới là do vật chất tạo thành”, ông đả phá mê tín và thần thánh. Heraclite khẳng định tư tưởng biện chứng «người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông”. Empedocle và Democrite đề ra thuyết nguyên tố.
Socrate bị buộc tội vô thần phải uống thuốc độc chết trong nhà tù, ông từng nói câu nổi tiếng: “tôi biết rằng tôi không biết gì hết”,”anh hãy tự biết lấy mình”. Thái độ hoài nghi tất cả chính là sự khẳng định trí tuệ con người .
Platon phát triển triết học duy tâm đến mức cao nhất, học trò của ông là Aristote đã thâu tóm và tổng kết toàn bộ triết học và khoa học Hi Lạp thời bấy giờ. Mặc dù là “kẻ đi lầm đường”, Aristote vẫn là bộ bách khoa toàn thư của thời cổ đại Hi Lạp. Sau ông là Epiqure với thuyết duy vật nguyên tử lượng chống lại toàn bộ tôn giáo và mọi mê tín. Marx và Engels coi ông là “người duy nhất thời cổ đại muốn đem lại ánh sáng cho trí tuệ con người”.
Năm  323 (tr C.N) cái chết bất ngờ của vua Alexandre Đại đế kéo theo sự sụp đổ của đế quốc Hi Lạp. Kế đó đế quốc La Mã lên ngôi bên kia bờ Địa Trung Hải làm lu mờ thiên tài Hi Lạp. Hi Lạp bị thôn tính trở thành một tỉnh của La Mã từ thế kỉ I tr. C.N
Đến thế kỉ VI, đế quốc La Mã cũng sụp đổ, một nước Hi Lạp thiên chúa giáo ra đời . Từ đây ở Hi Lạp, văn học nghệ thuật  cũng như văn hóa nói chung trở nên thấp kém, không nối tiếp và phát huy được truyền thống huy hoàng cổ đại nữa .

CHƯƠNG II                 THẦN THOẠI HI LẠP

Thần thoại Hi Lạp là một hệ thống các truyện kể phong phú đẹp đẽ xếp vào hàng những truyện hay nhất thế giới. Trước khi có chữ viết, người Hi Lạp đã sáng tác những câu chuyện kì diệu để gửi vào đó nhận thức về thế giới, kinh nghiệm sống và  ước mơ và khát vọng.

Đó là quá trình chinh phục thiên nhiên kéo dài vô cùng chậm chạp vì trình độ lao động còn thấp, công cụ lao động thô sơ.
Trong truyện, người Hi Lạp lấy mình làm thước đo vũ trụ, dùng tưởng tượng để giải thích tự nhiên và chinh phục nó cho thỏa nguyện vọng của mình .
Tư tưởng của thần thoại (ý thức hệ) là “chủ nghĩa thần linh”. Mọi hiện tượng và vật thể đều được gán cho sức sống và sức mạnh thần bí .
Mặt khác, thần thoại vẫn đậm màu sắc hiện thực và duy vật thô sơ .
Thần thoại có tư duy cao về hình thức nghệ thuật  và nội dung nhân văn, ý nghĩa triết lí.
I – PHÂN LOẠI: Có thể chia hệ thống thần thoại Hi Lạp ra ba nhóm :
Nhóm 1 : truyện về các gia hệ thần
Nhóm 2 : truyện về các thành bang và vua chúa
Nhóm 3 : truyện về các anh hùng, nghệ nhân, nghệ sĩ .
NHÓM 1 : TRUYỆN VỀ CÁC GIA HỆ THẦN
Phản ánh sự ra đời của các dòng họ thần thánh đầu tiên. Gồm các sự tích của 4 gia hệ thần
  1. Gia hệ thần Chaos – sự mở đầu thế giới .
  2. Gia hệ thần Uranos  – vũ trụ
  3. Gia hệ thần Cronos – bầu trời
  4. Gia hệ thần Zeus (Jupiter) – chúa tể thần linh .
Thần Chaos là một khối hỗn mang và vực thẳm mênh mông , tối đen .
Thần đẻ ra thần Đất Mẹ (Gaea) có bộ ngực mênh mông , nơi sinh sống của vạn vật .
Thần Chaos còn sinh ra địa ngục, thần Nix – đêm tối mịt mù, thần Eros thần tình yêu – đứa con út của Chaos.
Nix lại đẻ ra thần khí Eter bất diệt và Hermer – thần ánh sáng .
Năm vị thần đó là nguyên lí sinh sôi nảy nở của vạn vật .
Thần Uranos
Thần đất Gaea lại kết hôn với bầu trời (Uranos), họ sinh được nhiều con khổng lồ , gồm ba nhóm
Nhóm titan : sáu nam thần khổng lồ  và nhóm titanid: sáu nữ thần
Nhóm ba thần  Ciclope khổng lồ có một mắt ở trán, hung bạo, khéo léo, làm thợ rèn .
Ba quỉ thần Hecatonchires có một trăm tay và năm chục cái đầu.
Các vị thần titan và titanid kết hôn với nhau sinh ra các thần tiên sông biển núi, trăng sao, gió, trật tự, pháp luật, trí tuệ. v.v .
Thần Cronos lật đổ thần Uranos:
Cronos là một titan, thấy mẹ Gaea bất mãn với bố là Uranos về cách đối xử phân biệt ba nhóm con cái nên tức giận rình chém chết Uranos trên giường ngủ.
Nữ thần Gaea còn có nhiều cuộc tình duyên khác sinh ra đủ loại quỉ thần rải khắp nơi .
Thần Zeus ra đời:
Sau khi giết Uranos giành quyền cai quản thế giới, Cronos vẫn chưa yên tâm, ông lo sợ sẽ có ngày một đứa con của mình sẽ cướp ngôi. Để trừ hậu họa, mỗi lần vợ sinh con, ông nuốt hết vào bụng. Vợ là nữ thần Rhea giận dữ lánh tới một hòn đảo, sinh đứa con trai út đặt tên là Zeus. Bà giao cậu bé cho các tiên nữ rừng núi tên Nymph nuôi Zeus bằng sữa dê thần. Các thần che chở Zeus suốt  tới khi cậu trưởng thành.
Zeus lật đổ Uranos: Bà nội Gaea và mẹ – Rhea giao sứ mệnh cho Zeus trả thù cho các anh chị bị nuốt. Cuộc giao tranh Zeus và Uranos kéo dài gay go ác liệt. Zeus có vũ khí sấm sét lợi hại. Cuộc chiến kéo dài 10 năm giữa hai phe thần khổng lồ. Phe Zeus đánh bại hoàn toàn các thần titan Gigantos .
Zeus trừng phạt những người họ hàng theo cha. Bà nội Gaea lại tìm cách giải thoát họ . Zèus đưa nhiều vị thần đi đày ở những đảo xa.
Lực lượng của Zeus chiếm lấy đỉnh núi Olympe làm nơi ở của thần linh và cai quản vũ trụ
Nguồn gốc loài người:
Các vị thần lấy vàng nặn ra những người đầu tiên trên trái đất. Thiên nhiên có đủ thức ăn thường xuyên cho họ. Nhưng rồi trải qua thời gian dài, thức ăn cạn dần, cuộc sống khó khăn , loài người đầu tiên ngày càng hư hỏng, xấu xa, ngu dốt. Cuộc sống lại đầy hiểm họa do cả thiên nhiên và con người gây ra.
Vị phúc thần Promethe lấy trộm ngọn lửa thần của Trời đem cho loài người , lại dạy con người dùng lửa để chế tạo công cụ sản xuất và vũ khí hộ thân .
Zeus – chúa tể các vị thần đã trừng phạt titan Promethe, đây là bi kịch đầu tiên của loài người, sự tuẫn nạn đầu tiên cho quyền làm người .
Nạn hồng thủy
Loài người càng phát triển càng kiêu ngạo với Trời và thánh thần. Zeus ra lệnh thần Mưa Bão hoạt động liên tục để “rửa sạch” trái đất. Loài người diệt vong, may còn sót lại một cặp vợ chồng là con của titan Promethe. Nhờ phép thuật của cha, họ tiếp tục sinh sôi nảy nở duy trì loài người cư trú khắp vùng Hi Lạp.
Thế giới Olympe – 12 vị thần tối cao

Thiên đình là thế giới thần linh, trong đó có gia đình thần thánh gồm 12 vị tối cao .
1 . Zeus (còn gọi Jupiter) – thần Sấm sét, chúa tể  thần linh
2 . Hera – vợ Zeus, cai quản hôn nhân, bảo vệ bà mẹ trẻ em
3 . Hadex – cai quản âm phủ
4 . Pozeidon (Neptune) – cai quản biển khơi.
5 . Demeter – nữ thần cai quản chăn nuôi và trồng trọt
6 . Herchia – nữ thần cai quản bếp lửa gia đình. Đoàn tụ gia đình
7 . Athena (Minerve) – nữ thần trí tuệ, công lí, chiến trận, nghề thủ công và nghệ thuật  , con gái riêng của Zeus tự sinh từ bộ não. Độc thân suốt đời .
8 . Aphrodite (Venus) – nữ thần sắc đẹp và tình yêu, vợ của thần chiến tranh Arex
9 . Hephaistot : thần Lửa, Thợ Rèn chân thọt, tổ nghề thủ công đồ sắt. Con trai Zeus và Hera, chồng cũ của Venus.
10 .Apollon (Heliot) con của Zeus và nữ thần ánh sáng Leto. Thần mặt trời, xạ thủ, nghệ thuật, âm nhạc và chân lí.
11 . Arthemis (Diane) – em gái Apollon, nữ xạ thủ có cây cung bạc, độc thân vĩnh viễn .
12 . Arex (Mars) – thần Chiến tranh, con của Zeus, chồng sau của Venus .
Con cháu các vị thần
Các thần có nhiều mối tình vụng trộm với thần và với cả người trần , sinh ra nhiều con cháu. Tiêu biểu là thần Zeus có nhiều cuộc tình do quyền uy và sức mạnh , đặc biệt sinh con với phụ nữ Hi Lạp sinh ra “bán thần”.
Dionisote (còn gọi Bacchus), là con của Zeus với một người phụ nữ, chế tạo ra Rượu nho. Sau khi chết, dân chúng ghi ơn lập đền thờ. Zeus cho về thế giới thần linh bất tử. Các vị thấn khác cũng chẳng kém chúa tể thần linh, họ có nhiều đứa con “bí mật ».
Hầu hết con cháu các thần linh đều trở thành dũng sĩ lập nhiều chiến công , thành tích xây dựng thành bang, tiêu diệt quỉ dữ, làm vua chúa các vùng (khoảng 100 thành bang trên đất Hi Lạp cổ)
Con cháu thần thánh còn là những nghệ sĩ, nghệ nhân và những người thợ giỏi nhất.
Có nhiều câu chuyện kể về các dũng sĩ, nghệ sĩ đó .
Chẳng hạn những chuyện vể dũng sĩ Perce anh hùng diệt quỉ dữ cứu người, dũng sĩ Heracles (còn gọi Herculles) lập nên 12 kì công, tham dự cuộc chiến tranh thành Troie, anh hùng Thesee xây dựng đô thành Athens (mang tên của nữ thần Athena) . . .
NHÓM 2:  SỰ TÍCH CÁC THÀNH BANG
Truyện sự tích Châu Âu và một số thành bang: vua Agienor thành Sidon, con trai  của thần Pozeidon và tiên nữ Okenaid xứ Libie sinh ra. Vua Agienor sinh bốn con trai là Cadmos, Phenicie, Kilice và Phinee và một gái tên là Europe. Nàng xinh đẹp như ánh sáng. Một đêm nằm mơ thấy hai mảnh đất khổng lồ cách nhau một quãng biển rộng, một mảnh gọi là Asie, còn mảnh kia chưa biết gọi là gì. Hai mảnh đất hoá thành hai người phụ nữ tranh nhau dữ dội giành bắt lấy nàng Europe. Cuối cùng người phụ nữ tên Asie đành  thua cuộc. Người kia nuôi dưỡng chăm sóc Europe đến khi trưởng thành…  Tỉnh giấc mơ cô kể lại với vua cha. Điềm chẳng lành ? Một ngày kia thần Zeus quyến rũ nàng, thần hoá làm một con bò mộng lông vàng óng, đôi sừng cong như vầng trăng, vầng trán toả ánh sáng bạc lấp lánh. Con bò đến gần nàng Europe, dụi đầu vào cánh tay, thè lưỡi liếm bàn tay nàng , quì xuống bên nàng. Hơi thở của nó cũng toả hươgn thơm ngát. Nàng vuốt ve nó rồi ngồi lên lưng. Bất chợt nó vùng chạy, lao xuống nước biển , nàng gào thét  kêu cứu. Con bò bơi trên biển như cá. Những nàng tiên nữ biển cả Nereid lội hai bên rẽ nước hộ tống, Europe vẫn khô ráo khi con bò cập bờ một hòn đảo đô thành tên là Cret. Thần Zeus hiện nguyên hình uy nghiêm đẹp đẽ, tỏ tình với nàng. Sau đó Europe sinh hạ ba người con trai là: Minos, Radamante và Sarpedon. Những người dân xứ đảo này lấy tên nàng đặt tên cho toàn bộ vùng đất phía Tây là Europe nghĩa là châu Âu.

Vua Agenor từ khi nàng Europe mất tích liền sai bốn con trai là Cadmos, Phenicie , Kilice và Phinee và tuyên bố nếu không tìm thấy em gái thì chớ quay về. Vượt bao gian khổ không tìm thấy em gái Europe, mỗi người đi mỗi ngả và khai phá, xây dựng quê hương mới. Đó là những đô thành rải rác ở châu Âu và Hi Lạp mà họ trở thành các vị vua (các thành bang  Phenixi, Kiliki, Xanmidessos và Cadmee tức là Thebes nổi tiếng Hi Lạp) .

Hầu như cả trăm thành bang ở Hi Lạp đều được kể đến trong những cuộc xây dựng của những người anh hùng thần thoại Hi Lạp .

NHÓM 3: SỰ TÍCH CÁC ANH HÙNG, NGHỆ NHÂN, NGHỆ SĨ BÁN THẦN
Người dân Hi Lạp tin rằng những người có tài năng xuất chúng, phẩm chất tuyệt vời huyền bí, chắc hẳn phải mang dòng máu thần linh. Ngôn ngữ thi ca và trí tưởng tượng phong phú với một lối tư duy đặc sắc Hi Lạp đã sáng tạo cả một hệ thống thần thoại hùng vĩ với khoảng 3000 nhân vật thần linh và bán thần, người trần. Các nhân vật đầy những ước mơ, khát vọng, đau khổ, vui sướng, hạnh phúc và sụp đổ. . .như con người Hi Lạp vậ .
Thần thoại Hi Lạp là sự khởi đầu rực rỡ, trở thành nguồn nuôi dưỡng toàn bộ văn học  nghệ thuật  Hi Lạp về sau, lại được lan tỏa khắp châu Âu mở ra thời đại Phục Hưng Tây Âu.
Dưới đây giới thiệu một số truyện thần thoại tiêu biểu :
SỰ TÍCH THẦN APOLLON
(Heliot)
Apollon sinh đôi cùng nữ thần Arthemis, con của Zeus và Leto sau cuộc tình vụng trộm của họ. Apollon là vị thần đa năng có sứ mệnh bảo vệ chân lí, truyền bá âm nhạc và thơ ca
Chiến công đầu tiên của anh là diệt trừ con mãng xà Piton để bảo vệ người mẹ Leto. Nguyên nhân là Hera ghen tức, sai con mãng xà truy đuổi nữ thần Leto – người tình của Zeus. Con mãng xà được thể phá hoại đời sống dân lành. Apollon bay tới vùng Denph , tìm đến cửa hang con quái vật. Cuộc giao tranh diễn ra dữ dội, ác liệt. Cuối cùng thần Apollon đã dùng cây cung bằng đá hạ thủ con quái vật, rồi chôn nó dưới đất sâu, dựng một ngôi đền đè lên, đặt tên ngôi đền thờ thần linh là Denph. Thần còn ra lệnh tổ chức một lễ hội thể thao cứ 4 năm một lần để ghi nhớ chiến công oanh liệt của mình. Lễ hội đó gọi là Olympiad (cuộc đấu: ade, ở chân núi Olympe). Những cô trinh nữ được chọn làm cô đồng trông coi đền thờ, được coi là sứ giả giao tiếp với thần Apollon.Họ chuyển lời cầu khẩn của dân chúng lên vị thần và chuyển lời phán truyền, sấm ngôn của thân Apollon đến dân chúng
Ngôi đền Denph trở thành một trung tâm tôn giáo lớn của thế giới Hi Lạp. Người ta thường kéo về đây để cầu xin thần thánh, không chỉ phúc lợI, mà còn mong lời chỉ dẫn hoặc tiên tri (Apollon là thần chân lí). (Cuối thế kỉ 19 đầu 20, ở nơi hoang tàn đổ nát của đền Denph, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều di vật quí giúp cho việc xây dựng lại đền Denph)
Apollon còn là vị thần đa tình, có nhiều mối tình đẹp đẽ nên thơ  Có lần chàng yêu nữ thần Daphnee xinh đẹp con gái thần sông. Chàng đến gần, nữ thần hoảng sợ bỏ chạy. Chàng đuổi theo cất tiếng gọi tha thiết. Nàng vẫn chạy. Gặp con sông lớn, nàng cầu xin cha là thần sông, rồi hóa ra một cây mọc bên bờ nước. Mái tóc đẹp đẽ của nàng biến thành những cành là cây, ngón chân biến thành rễ cây. Khi Apollon chạy tới thì nàng đã hóa thân hoàn toàn. Chàng ngẩn ngơ thương tiếc, vuốt ve cành lá với nỗi ân hận xót thương. Chàng tuyên bố giải thưởng thi đấu Olympiad là: ai chiến thắng sẽ được đội trên đầu một vòng lá cây Daphne (vòng nguyệt quế, tên Lamã là Olive) .
Còn nhiều câu chuyện về thần Apollon với nhiều chiến công và cả những sai lầm gây không ít rắc rối cho mọi người. Ở Hi Lạp đã hình thành một “tôn giáo Apollon” .
APHRODITE – NỮ THẦN SẮC ĐẸP VÀ TÌNH YÊU
(tên La mã: Venus)
Người phương Đông thường gọi là thần Vệ Nữ. Thiên văn học gọi là sao Kim / sao Vệ nữ . Venus ra đời trong đám bọt biển. Nàng có thân hình dáng điệu cử chỉ đẹp của trời đất thiên nhiên phối hợp kết tinh kì diệu. Nàng được cả thế giới thần thánh và loài người khâm phục yêu mến, bởi ai cũng muốn có tình yêu (ngoại trừ một số nhân vật thích sống độc thân) . Quyền lực của nàng là chiếc dây lưng kì diệu có khả năng gây tình yêu say đắm cho những người yêu nhau. Nữ thần Venus đã từng cho chàng Parish hoàng tử thành Troie mượn dây lưng đi quyến rũ Helen – hoàng hậu thành Athens, gây ra cuộc chiến tranh thành Troie nổi tiếng trong thần thoại Hi Lạp.
Venus có nhiều cuộc tình duyên với  thần thánh và cả người  trần. Người chồng đầu tiên là Hephaistot- con thần Zeus- là thần Lửa kiêm thần Thợ rèn của thế giới thần linh. Nàng không chung thủy với chồng, lại dan díu với thần chiến tranh Arex. Có lần bị chồng bắt gặp vợ đang dan díu, một cuộc xung đột xảy ra, chồng bị thương nên chân thọt. Bỏ nhau, nàng trở thành vợ của Arex, sinh được 5 con – 1 gái và 4 trai. Ngoài ra Venus còn yêu một người trần và thần Rượu nho Dionisote. Có những phong tục phát sinh từ nhân vật Venus . chẳng hạn phong tục đám cưới: cô dâu dâng cúng nữ thần Venus một chiếc thắt lưng do chính tay mình dệt để cầu xin sức mạnh tình yêu. Lại có vùng, trong buổi tế lễ lớn ở đền thờ Venus, một số thiếu nữ xinh đẹp được chọn hiến thân cho những người đàn ông để chứng tỏ quyền lực của nữ thần, hoặc chứng tỏ các cô thiếu nữ có quyền sử dụng trinh tiết của mình. Những người đàn ông vào “hành lễ” phải nộp một khoản tiền vào quĩ của đền thờ. Engels nhận xét về tập tục đó:“là hình thức mãi dâm đầu tiên trong lịch sử loài người”.
Tóm lại, nữ thần Venus tạo ra bao nhiêu hạnh phúc cho con người và cũng gây không ít khổ đau cho họ.
Nữ thần Venus còn có một vai trò khá lớn lao đối với nghệ thuật . Câu chuyện dưới đây về nhân vật Pigmalion nêu lên mối quan hệ đặc biệt của nghệ thuật và đời sống :
Trên vương quốc đảo Sip có nhà vua trẻ và cũng là họa sĩ điêu khắc tài ba- chàng Pigmalion. Không hiểu vì sao chàng luôn luôn có mối ác cảm với phụ nữ. Chàng quyết tâm sống độc thân để sáng tạo nghệ thuật. Miệt mài sáng tác, chàng nghĩ sẽ sống với tình yêu nghệ thuật là hạnh phúc nhất. Tình yêu của chàng cũng say đắm, mộng mơ, nhớ nhung , cao thượng  và rung cảm đẹp đẽ. Chàng tạc nên một bức tượng thiếu nữ xinh đẹp bằng ngà voi trắng muốt. Làm việc quên ăn quên ngủ, chàng say mê tác phẩm của mình, chàng sung sướng ngắm nhìn không chán con người lộng lẫy như bước ra từ chiếc ngà voi khổng lố. Bức tượng sống với chàng như con người thật. Chàng đeo lên bộ ngực trần bức tượng một chuỗi ngọc quí, chàng may chiếc ào lụa mỏng cho bức tượng, lại đội cho “nàng” một vòng nguyệt quế. Ngày đêm, Pigmalion trò chuyện cùng nàng trong một tình yêu hoang tưởng .
Nhưng tác phẩm vẫn là tác phẩm,  còn cuộc đời vẫn là cuộc đời. Chàng nghệ sĩ đặt  bàn tay nóng ấm của mình lên pho tượng và cảm thấy rõ sự lạnh lẽo khô cứng của nó khiến chàng tỉnh mộng. Pigmalion gục xuống thất vọng bên pho tượng. Nữ thần Venus vẫn hằng theo dõi cuộc đời chàng nghệ sĩ, đã từng giận dữ thù ghét chàng, nay nữ thần tin rằng chàng sẽ phải tỉnh ngộ. Và một ngày nọ, chàng sắm sửa lễ vật dâng đền thờ Venus, thì thầm cầu nguyện. Ngọn lửa trên điện thờ bừng cháy ba lần, đấu hiệu chấp nhan của nữ thần Venus. Pigmalion trở về nhà. Chàng đẩy cửa, một người thiếu nữ đứng nhìn chàng đăm đăm, đẹp tươi sinh động bội phần. Chàng tiến tới, đặt tay lên vai nàng, một cảm giác ấm áp truyền nhanh qua người chàng… Thiếu nữ mỉm cười, rời khỏi bệ tượng, ngả lên vai chàng. Chàng họa sĩ bèn đặt tên khai sinh cho nàng là Galatea. Họ sống thật hạnh phúc, sinh một đứa con trai, đặt tên là Paphos lớn lên thay cha làm vua (Paphos: tiếng Hi Lạp nghĩa là cảm hứng, nhiệt tình, xúc động – chuyển tiếng Pháp là Pathetique, chuyển tiếng Anh là Sympathetic – cảm động, thống thiết, cảm thông) . Pigmalion cho xây dựng một đô thành trên đảo Sip  và lấy tên mình đặt cho đô thành ấy. Vua còn cho xây một ngôi đền nguy nga để dâng lên nữ thần Venus- Aphrodite. Nữ thần Venus từ đó có thêm biệt danh: Paphos. Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật  thế giới, người ta nói đến “thói Pigmalion“ để ám chỉ những nghệ sĩ quá say mê sùng bái tán thưởng công trình nghệ thuật  của chính mình mà mất cả tỉnh táo .
Hiện nay trên thế giới có nhiều bức tượng Venus ,nổi tiếng hơn cả là “Venus de Milot“ của họa sĩ Ý Leonardo Da Vinci thời Phục hưng. Bức tượng này bị cụt hai cánh tay (bị gãy trong một lần di chuyển) nhưng ngày nay vẫn giữ nguyên hiện trạng, không ai sửa chữa bổ sung đôi cánh tay nữa.
THẦN RƯỢU NHO DIONISOTE
(Bacchus)
Là con của thần Zeus với một người phụ nữ Hi Lạp tên là Semele, cậu bé Dionisote sống với mẹ như một đứa con rơi, con hoang. Cuộc tình của mẹ chàng thật là bi thảm. Zeus lẩn tránh Hera, hóa thành chàng trai đến gặp nàng Semele, tỏ tình và khoe khoang. Ông ta hứa sẽ làm bất cứ điều gì nàng muốn. Nữ thần Hera nghe biết hết, liền tìm cách phá hai người. Bà xúi giục Semele nghi ngờ Zeus không phải là vị thần tối cao mà chỉ là kẻ chăn cừu bình thường . Rồi Semele khăng khăng đòi Zeus hiện nguyên hình để chứng minh nguồn gốc. Zeus ra sức chối từ, ngăn cản nàng. Nước mắt và sự cương quyết của người phụ nữ đã thắng. Zeus buộc lòng phải hiện nguyên hình. Một tiếng sét nổ xé tai, rung chuyển trời  đất. Thành Thebes bốc cháy. Zeus nhanh tay cứu kịp đứa bé con trong bụng người tình. Đứa bé thiếu ba tháng. Zeus rạch đùi đặt đứa bé vào, nuôi tiếp. Từ đùi cha, câu bé Dionisote được sinh ra đời lần thứ hai. Zeus đem con đi gởi các tiên nữ Nymphe trong thung lũng nuôi giúp. Hera còn tiếp tục theo dõi đánh ghen khiến cậu bé phải chịu bao khổ cực, trôi dạt từ xứ này qua xứ khác. Có khi thần Zeus phải biến cậu thành con dê để che mắt Hera.
Lớn lên, Dionisote đi lang thang khắp nơi, dạy dân trồng cây nho, ép rượu.  Rượu nho mang lại sự vui tươi, hoan lạc có khi tới độ cuồng nhiệt. Có những ma quỉ lợi dụng uống nhiều, say sưa, càn quấy. Nhiều người căm thù rượu nho và kẻ sinh ra thứ nước ma quái đó (có chuyện hiểu lầm gây tai hại cho cha con Icare mục tử – xem phần bi kịch ở sau). Có lần, nhà vua cho quân lính bao vây đoàn tùy tùng và tấn công. Dionisote chạy thoát. Thần Zeus can thiệp, trừng phạt nhà vua.  Nhưng Dionisote còn phải chịu nhiều khổ cực oan trái nữa mới được cha Zeus cho về thế giới thần linh Olympe làm vị thần bất tử. Dân chúng Hi Lạp học được nghề trồng nho và nấu rượu nho, trở nên khá giả. Họ biệt ơn vị thần Dionisote, lập đền thờ chàng (Về sau, trong nghi lễ tế thần có con dê – một hóa thân của Dionisote – người ta đã sáng tạo ra thể bi kịch -một đỉnh cao của thơ (Bi kịch: Tragos -con dê,  tiếng Anh: Tragedy) .

CUỘC ĐỜI ANH HÙNG HERACLES
(Hercules)
Trước hết hãy kể về người anh hùng Perce lừng lẫy, ông tổ  bốn đời của dũng sĩ Heracles .
Vua Acrisios hiếm hoi chỉ sinh được một con gái tên Danae. Cô bé lớn lên ngày càng xinh đẹp. Vua thường mong có con trai nối dõi, đến cầu xin thần Apollon ở đền thờ Denph . Thần phán truyền: vua sẽ không có con trai. Nhưng cô Danae sẽ sinh con trai, và đứa cháu ngoại sẽ giết ông cướp ngôi vua. Vua hoảng sợ, tìm cách ngăn chặn hậu họa. Không nỡ giết hại con gái, ông cho xây căn hầm sâu trong lòng đất, đưa Danae xuống nhốt trong căn buồng bốn vách tường đồng vững chắc nhằm ngăn cách nàng với những kẻ đàn ông … Trải bao tháng ngày sống dười hầm sâu, Danae tội nghiệp chỉ ngắm nhìn bầu trời qua một ô cửa nhỏ. Thần tối cao Zeus đã nhìn thấy nàng công chúa xinh đẹp đáng thương. Zeus hóa làm một cơn mưa, chui lọt xuống hầm sâu và ăn ở với Danae. Nàng thụ thai, sinh một con trai .
Ông vua chưa nản chí, ông đóng một chiếc thùng gỗ, bỏ hai mẹ con Danae vào rồi đẩy thùng trôi ra biển khơi. Thùng gỗ trôi dạt vào một hòn đảo và một ngư dân đã cứu họ thoát chết. Lớn lên, cậu bé Perce làm nghề chài lưới. Chàng lập nhiều chiến công tiễu trừ quỉ dữ với sự trợ giúp của thần Zeus  và các vị thần linh. Perce đi trừng phạt thần Atlas, biến anh ta thành quả núi đá đứng vác bầu trời trên một bên vai. Rồi một ngày kia, hai mẹ con tìm đường trở về quê hương. Trên đường về, họ ghé thăm vương quốc Larisa. Ông vua Acrisos nghe tin con gái và cháu ngoại đang trên dường về quê thì hoảng sợ, đi sang lánh mặt ở vương quốc Larisa. Ở xứ này đang diễn ra một cuộc thi đấu thể thao. Perce bước vào tham dự môn ném dĩa. Chiếc dĩa sắt nặng bay đi quá mạnh, rơi vào đám khán giả, trúng ngay đầu ông ngoại- vua Acrisos đang đứng xem khiến ông chết tại chỗ. Lời tiên tri Apollon ngày xưa đã ứng nghiệm. Chàng dũng sĩ Perce quá đau xót vì sự rủi ro, làm đám tang trọng thể cho người ông xấu số ở quê nhà. Chàng trao đổi vương quốc của ông ngoại lấy một vương quốc khác rồi lên ngôi vua ở đó.
Vua Perce lập gia đình, sinh con trai tên Electrion. Vua Electrion lại sinh được chín trai một gái. Con gái đặt tên là Ankmen, về sau gả cho hoàng tử nước láng giềng là Amphitryon .
Hoàng tử Amphitryon thường đi chiến trận vắng nhà. Thần Zeus chú ý, liền hóa thành hoàng tử “Amphitryon“ về gặp Ankmen. Hai người ân ái ba ngày đêm liên tục, thần Zeus ra lệnh cho thần Mặt trời Apollon không được mọc suốt ba ngày ấy. Thần Zeus vừa đi khỏi thì chồng nàng trở về. Ankmen hiểu rằng nàng đã nhầm lẫn không thể sửa chữa. Nàng Ankmen có tai, sinh đôi hai đứa con trai- một của chồng, một của thần Zeus Thần Zeus ẵm đứa con của mình về, lừa lúc nữ thần Hera ngủ say, cho thằng bé bú trộm sữa thần bất tử của Hera. Hera đang ngủ chợt thấy độn, tỉnh dây, hất đứa bé ra. Nó đã bú gần no, rời miệng khỏi vú. Một dòng sữa trắng lớn vọt ngang trời  thành dải sao rộng lớn, gọi là Milky Galaxy (chòm sao sữa), phương Đông gọi là sông Ngân Hà. Thần Zeus ẵm bé bỏ chạy, trả cho mẹ nó, rồi đặt tên nó là Heracles (vinh quang của Hera). Nữ thần Hera vẫn ghen tức, tìm mọi cách truy đuổi giết thằng bé Heracles. Bà ta cho hai con rắn độc chui vào buồng ngủ của hai bé  trong cung điện của Ankmen. Chú bé Heracles 10 tháng tuổi ngồi trong nôi  hai tay bóp chết hai con rắn.
Lớn lên, Heracles đi chăn gia súc, luyện tập võ nghệ. Có lần, chàng lập công lớn diệt trừ một con quái vật khủng khiếp, được nhà vua xứ nọ gả cho tất cả 50 công chúa để thưởng công (cũng là cách chọn và nhân giống anh hùng Heracles). Chàng phaỉ tiến hành 50 lễ cưới liên tục trong 50 ngày, con cái của Heracles về sau đông đúc không kể xiết. Heracles tiếp tục chiến đấu lập công, lại được vua thành Thebes gả công chúa Mega. Cuộc sống lứa đôi này mới thực sự hạnh phúc, sinh được 8 đứa con. Nhưng nữ thần Hera vẫn  đeo đuổi trả thù, dùng phép thuật làm cho chàng phát điên giết hết 8 đứa con của mình và mẹ chúng là Megara , và nhiều đứa bé khác. Hera yêu cầu thần Zeus trừng phạt Heracles vì tội giết người. Buộc lòng thần Zeus phải thi hành công lí, bắt Heracles đi làm đầy tớ cho nhà vua Euriste ở nơi quê cha đất tổ trong 12 năm và hứa sau khi hết hạn sẽ cho về núi Olympe – thế giới của thần linh.
Trở về quê nhà, thành bang Miken, chàng phải làm nô lệ cho tên vua hèn nhát ốm yếu . Hắn lợi dụng Heracles có sức khỏe và võ nghệ, liên tiếp sai anh đi làm những công việc nguy hiểm, ác liệt và vất vả. Heracles lên đường 12 lần lập công trong 12 năm. Đó là 12 chiến công lừng lẫy:
1 -  Giết con sư tử khổng lồ ở Nemee
2 -  Giết con mãng xà Hydrer
3 -  Bắt sống con lợn rừng hung dữ ở Erymanthe
4 -  Bắt sống con hươu cái Cerynie
5 -  Tiêu diệt đàn ác điểu ở hồ Stymphale
6 -  Quét dọn sạch chuồng bò hàng nghìn con ba mươi năm chưa dọn ở Aujat.(Châu Âu có thành ngữ “dọn sạch chuồng bò Aujat” (ngụ ý một tình  trạng trì trệ, hỗn độn cần được thanh toán, xóa bỏ) .
7 -  Bắt con bò mộng ở đảo Crete .
8 -  Đoạt bầy ngựa cái của Diomede
9 -  Đoạt chiếc thắt lưng  của Hipplite – nữ hoàng cai quản xứ Amazon
10 -Đoạt đàn bò của Geryon
11 -Bắt sống chó ngao Cerbere
12 -Đoạt những quả táo vàng của chị em Hesperides xứ Aicập. Nhờ thần Atlas, bị thần lừa và nhanh trí lừa trả miếng.

Sau mười hai chiến công, dũng sĩ Heracles cưới công chúa Dedaniar. Vô tình phạm tội giết người, chàng lại bị đày đi làm nô lệ cho nữ hoàng Omphale ở xứ Libi ba năm. Heracles lại tham gia cuộc chiến thành Troie 10 năm. Chàng yêu một thiếu nữ khác, vợ chàng- Dedaniar ghen tuông, mắc lừa con nhân mã, vô tình hại chồng bằng tấm áo thấm maú con nhân mã mà nàng tưởng nhầm là chiếc áo bảo vệ lòng chung thuỷ. Heracles trúng thuốc độc, chàng đau đớn không chịu nôỉ nên đành tự thiêu. Zeus tối cao đón chàng về đỉnh núi Olympe trở thành vị thần bất tử .
NỮ THẦN ATHENA THI ĐẤU VỚI CÔ THỢ DỆT ARAKNEE
Có một cô thợ dệt giỏi ở thành  Athens, sau khi giành chiến thắng vượt qua nhiều thợ khác trong một cuộc thi tài, cô kiêu hãnh tuyên bố “ngay cả nữ thần Athena cũng không thể hơn ta được !“. Athena chính là vị thần sáng tạo ra nghề dệt. Athena nghe thấu nhân gian, tức giận cô thợ dệt Araknee, liền giả làm một bà cụ già tìm gặp Araknee và yêu cầu cô nhắc lại lời thách thức nữ thần. Khi nghe cô thợ giỏi nhắc lại lời thách thức, nữ thần Athena nhận lời thánh đấu. Cuộc thi dệt diễn ra trước sự chứng kiến của dân chúng. Cuộc thi khá sôi nổi, và cuối cùng, nữ thần Athena chiến thắng. Để trừng phạt kẻ thua cuộc kiêu ngạo không biết kính trọng thần linh, Athena hóa phép biến cô thợ Araknee thành con nhện, suốt đời dệt mãi những tấm lưới. Sự tích con nhện Hi Lạp là như thế.
TRUYỆN TÌNH  CỦA DANH CA ORPHEE
Thần sông Oagre là vua xứ Thras, ngài cưới Mude Caliop vốn là tiên nữ cai quản sử thi làm vợ. Họ sinh được con trai đặt tên là Orphee. Cậu bé bộc lộ sớm năng khiếu nghệ thuật, say mê đàn ca. Thần Apollon ban cho cậu một cây đàn liere 7 dây và nguồn cảm hứng vô tận, trái tim nhạy cảm dễ xúc động. Giọng hát của cậu cao vút trong trẻo ấm cúng lạ thường, hể cất tiếng là thành lời ca ứng tác. Đặt tay vào đàn thì giai điệu vang lên, chàng hát theo hoà hợp du dương êm ái. Chàng lại tăng thêm hai dây cho cây lia thành 9 dây. Vào rừng dạo chơi và hát, cây cối núi đá con suối lắng nghe, không con thú nào xâm phạm chàng, gọi nhau quây quần theo chàng. . .  tất cả đều hiền lành, nhảy múa reo quanh chàng . Cây đàn theo cuộc viễn chinh sang xứ Consite phương Đông đoạt bộ lông cừu vàng. Về quê, chàng cưới một tiên nữ rừng Nymph tên là Euridic. Cuộc tình thật hạnh phúc tuyệt vời. Nhưng một tai hoạ  xảy ra :nàng cùng bạn nymph vào rừng hái hoa đạp phải con rắn độc, nó mổ vào chân nàng. Nàng lịm dần, rồi tắt thở. Các bạn khóc vang rừng. Orphee chạy  đến, chỉ còn quì bên xác vợ khóc mãi. Núi rừng ủ rũ buồn rầu trầm mặc. Đắp một ngôi mộ cho nàng, chàng về nhà sắp sửa hành lí để tìm xuống âm phủ . Vượt bao gian nan hiểm trở, vượt qua sông Stich biên giới .giữa cõi trần và âm phủ, chàng gặp thần linh Hadex chủa tể âm phủ. Orphee bày tỏ mối tình đau khổ của mình và nàng Euridic, thần Hadex động lòng thương, thuận cho nàng theo chồng về cõi trần. Thần  ra điều kiện: trên đường trở về Orphee đi trước, vợ đi sau, chàng không được quay lại nhìn vợ, nếu không thực hiện đúng thì nàng sẽ phải ở lại cõi âm. Hai người  quay về  trần thế. Đường xa, chàng lắng nghe không thấy tiếng nàng. Chàng lo lắng, chẳng biết nàng có theo kịp hay đã lạc đường, hay là gặp tai hoạ nào chăng ? Sôt ruột, chàng quên cả lời dặn của Hadex, quay phắt lại tìm người vợ yêu. Hình ảnh nàng Euridic hiện vụt lên trước mặt rồi từ từ lui dần,  rồi biến mất. Chàng kêu lên thảm thiết và tuyệt vọng . . .
Bốn năm sau cái chết của vợ yêu Euridic, chàng vẫn không yêu ai nữa . . . Một đám phụ nữ ghen tức, chửi mắng . . . thậm chí họ đánh đập chàng. Họ còn phanh thây chàng, vứt cây đàn xuống một dòng sông, nước sông ngân lên tiếng đàn réo rắt khóc thương chàng danh ca của núi rừng . . . Các loài thú dữ cũng khóc chàng, những tiên nữ nymph mặc đồ tang đen, để tóc xoã . Còn cây đàn thần, Apollon xin phép Zeus đặt lên bầu trời thành chòm sao liere. Lại tìm nhặt thi hài chàng chôn dưới chân núi Olympe. Linh hồn chàng về âm phủ, gặp lại vợ yêu và đoàn tụ muôn đời bên nhau .
Ngày nay ở châu Âu có cuộc thi âm nhạc hàng năm mang tên Orphee và giải «Orphee vàng» .

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT  CỦA THẦN THOẠI HI LẠP

Thần thoại Hi Lạp là những sáng tác văn học đầu tiên, sớm gắn bó với cuộc sống sinh hoạt tinh thần của nhân dân. Những lời kể chuyện của các bô lão bên bếp lửa gia đình, những bài ca của người hát rong ở các đô thị, làng quê và những lời giảng của các nhà hiền triết chốn cung đình cho bậc vua chúa nghe. Những câu chuyện chất phác ngây thơ mà chứa đựng một dung lượng trí tuệ sâu sắc và những vẻ đẹp kì ảo. Nó là cội nguồn sự sống tâm hồn phong phú của nhân dân Hi Lạp trong buổi bình minh của lịch sử
I . THẦN THOẠI PHẢN ÁNH NỘI DUNG HIỆN THỰC ĐẤT NƯỚC HI LẠP THỜI CỔ ĐẠI
Cuộc sống  của xã hội Hi Lạp thời cổ đại được miêu tả sống động và huyền thoại hóa trong hệ thống truyện thần thoại .
1 -Nền sản xuất, trình độ sản xuất và công cụ lao động được miêu tả khá rõ nét trong những câu chuyện có vẻ hoang đường về các vị thần .
Thần thoại Demeter kể về vị nữ thần trông coi việc trồng trọt mùa màng .Nghề trồng nho và nấu rượu nho do thần Dionisos khởi phát. Nghề rèn được tả  trong cuộc đời thần thợ rèn Hephaistotê. Nghề dệt tinh xảo được tả trong cuộc thi tài của cô thợ dệt Ankmen và nữ thần Athena ở thành Athens. Nghề đi biển, nghề thương mại là công việc của thần Hermet, nghề chăn nuôi du mục trong nhiều câu chuyện như Icare mục tử, dũng sĩ Percee. . . Chuyện các thủy thủ trên con tàu Acgo cho ta biết người xưa đã biết thuần hóa bò rừng thành bò nhà để kéo cày, gieo hạt . . .
2 – Cuộc đấu tranh chống kẻ thù bốn chân và hai chân :
Thiên nhiên hung dữ gây bao tai họa cho con người cổ đại. Nạn hồng thủy, núi lửa , động đất, bão táp, thú dữ thú độc đều được miêu tả sinh động trong thần thoại. Truyện thần Apollon tiêu diệt mãng xà vùng Denph, truyện sư tử Nemee, bò rừng, chó ngao Xerbe, ác điểu … bị dũng sĩ Heracles chinh phục hoặc tiêu diệt.
Con người đã phải chiến đấu gay go, ác liệt để chinh phục thiên nhiên hoang dã mà sản xuất, làm ăn
. Anh hùng Heracles dùng đôi tay thần kì và cái cuốc uốn nắn dòng sông Anphe và Pene cho chảy qua chuồng bò Aujat khổng lồ. Anh hùng Thesee bắt quái vật đầu người, bắt con ngựa có cánh Pegade. Những con Sirens (nàng tiên cá có tiếng hát quyến rũ kéo thủy thủ lao đầu xuống biển sâu)  cũng bị Odyssee và chàng nhạc sĩ Orphee vô hiệu hóa
Cuộc xung đột giữa con người chân chính chống những kẻ thù hai chân – những tên xâm lược tham lam cũng được miêu tả hấp dẫn. Các anh hùng Heracles, Thesee . . . đã đương đầu với chúng để bảo vệ dân chúng. Riêng chàng Heracles đã chống lại nhiều tên lãnh chúa bạo tàn, hèn nhát, tham lam, đố kị. Tên Diomet nuôi ngựa dữ bằng thịt người. Tên khổng lồ Poliphem ăn thịt người, xây lâu đài bằng xương sọ người… chúng đã bị nhũng anh hùng trừng phạt theo công lí nhân dân.
3 – Sinh hoạt xã hội, phong tục tập quán cũng được miêu tả phong phú trong thần thoại:
Những cuộc đấu thể thao đầu tiên do thần Apollon đề xướng. rồi thi tài âm nhạc của Apollon với thần Pang, chàng nghệ sĩ Orphee. . .Chuyện  9 nữ thần nghệ thuật  con gái của Zeus. Những chuyện tình yêu,  hôn nhân, gia đình. Kiện tụng  trong xã hội mà thần thánh là quan tòa tối cao xét xử .
Nữ thần Rhae đẻ ra Zeus trong một “hang đá xa xôi“ , nữ thần Maya đẻ ra Hermet đem đặt vào hang đá. Thần Apollon dionisote chăn bò, chiều lại lùa bò về hang. . . đã chứng minh ngôi nhà đầu tiên của con người là hang đá .
Chế độ quần hôn, tạp hôn, hôn nhân tập đoàn được kể trong nhiều chuyện. Nhất là thần tối cao Zeus trải nhiều cuộc tình không phân biệt gia hệ, Heracles cưới cả năm chục chị em . Thần Uranos phối hôn với mẹ Gaia, thần Cronos cưới chị ruột là Rhea, thần Zeus cưới em gái là Hera . . .
Tục lệ hiếu khách của dân Hi Lạp do thần Zeus ban hành, ai vi phạm sẽ bị thần linh trừng phạt. Nghĩa là, ban đầu tục lệ phải được áp đặt, lâu ngày mới thành quen. Khách đến nhà phải được chủ nhà tiếp đãi chu đáo, được bảo vệ an toàn. Thần Zeus nhiều lần vi hành đi tìm những kẻ vi phạm tục lệ để trừng phạt (truyện Philemon)
Sự tiến bộ trong quan hệ nhân văn cũng được tả qua truyện Heracles bị trừng phạt vì tội giết con, giết vơ .
Những kẻ vi phạm đạo đức như ích kỉ, dối trá cũng bị trừng phạt. Đó cũng là bước đầu hình thành đạo đức (chưa phải là luật pháp) nên câu chuyện thần thoại là một kiểu tuyên truyền giáo dục có hiệu quả đặc biệt .
Kể từ khi xã hội phát sinh chế độ tư hữu, xã hội phân hóa giai cấp dẫn tới quan hệ giữa con người với con người ngày càng xấu đi. Những cuộc tranh giành của cải cũng chẳng kém phần quyết liệt. Đặc biệt bọn vua chúa, chủ nô tham lam bị thần thoại đả kích thích đáng .
II .  THẦN THOẠI PHẢN ÁNH TƯ TƯỞNG, TÌNH CẢM CỦA NGƯỜI HI LẠP CỔ ĐẠI:
1 – Chủ nghĩa duy vật thô sơ hình thành.
Mặc dù thần thoại thấm đẫm thế giới quan thần linh, nhưng cách giải thích  các hiện tượng tự nhiên và xã hội vẫn  mang màu sắc hiện thực và duy vật. Chẳng hạn, thần Promethe sinh ra từ đất, thần Decalion sinh ra từ đá, nữ thần Arthemis, Venus sinh ra từ bọt biển . . . Nghĩa là đều do vật chất sinh ra. Kể chuyện 4 gia hệ thần, người Hi Lạp muốn trình bày sự biến chuyển của thế giới từ thấp đến cao, từ hoang sơ đến tinh xảo, đẹp đẽ.. nhân vật con trai út bao giờ cũng phát triển thành công hơn những người anh.
Nhân vật chính thay đổi từ thần linh dần dần chuyển sang con người, tức là từ chủ nghĩa thần linh sang chủ nghĩa nhân văn. Vai trò con người ngày càng khẳng định .
Rõ ràng đó là tư tưởng duy vật và có tính biện chứng. Thần thoại không chỉ là hoang đường mà còn có tính logic. Nữ thần mùa xuân Percephon chỉ ở với mẹ ¼ năm, ngoài ra phải về âm phủ sống với chồng là Hadex.
2 – Nội dung nhân văn đậm đà trong thần thoại  Hi Lạp
Phân biệt ý niệm chính- tà từ rất sớm:
Trong những  gia hệ thần, người kể chuyện biểu lộ rõ thái độ  ca ngợi các vị thần tích cực và phê phán các thần tiêu cực. Từ sau đó dần dần phân biệt hai loại thần đối lập. Nữ thần Rạng Đông xinh đẹp với những ngón tay hồng, nữ thần Đêm Tối sinh ra thần Chết. thần Mộng Mị, thần Số Mệnh, thần Tuổi Già. Thần Hephaistote xấu xí chân thọt nhưng vẫn được mọi người quí mến vì có  công giúp người lao động rèn công cụ và vũ khí. Trái lại thần Chiến tranh Arex có bộ mặt đẹp đẽ nhưng ai ai cũng căm ghét, ngay cả vợ hắn là thần  Venus cũng  đi ngoại tình. Hắn có con riêng là nữ thần Bất Hòa.
Tư tưởng đạo lí công bằng được đề cao: trừng phạt và khen thưởng. Phần thưởng cao nhất là được trở về đỉnh núi Olympe  hào quang chói lọi, sống bất tử cùng thế giới thần linh  và cuộc đời vui bất tận.
Thái độ trân trọng tất cả những gì có ích cho cuộc sống con người. Đặc biệt thái độ đối với thiên nhiên: trân trọng cây cối, hoa trá , trừng phạt những kẻ bạc đãi thiên nhiên tươi đẹp, nuôi dưỡng con người. Một tên vua chặt một cây sồi đã bị thần Đói đến thăm nhà. Kẻ nọ vác cuốc chặt vườn nho bị thần Dionisos trừng phạt đến chết .
Đề cao những tình cảm đạo đức lớn lao: tình yêu quê hương, đất nước, đồng bào, đồng loại .. đến các tình cảm gia đình tình mẫu tử, vợ chồng, anh em, cha con thủy chung son sắt.

III. ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA THẦN THOẠI
Đó là tính lãng mạn và cái đẹp cổ đại, chất thơ, trí tưởng tượng tràn đầy trong thần thoại  . Phẩm chất đó là nét đặc trưng của Con Người, thể hiện trên những yếu tố sau :
Ước mơ hi vọng của nhân dân về cuộc sống lao động nhẹ nhàng, bớt cực nhọc, năng suất cao. Người lao động tự bảo vệ được mình chống lại mọi thứ kẻ thù, kẻ xâm hại .
Thần thợ rèn, thần thợ xây, thần dệt vải, thần rượu nho… đều dạy con người biết cách thay đổi cuộc sống của mình. Thần đưa tin chế ra đôi hài nhanh hơn ý nghĩ để thỏa mãn nhu cầu thông tin của con người. Thần Heracles thể hiện ước mơ sức khỏe, lòng can đảm diệt trừ kẻ ác và thú dữ để bảo vệ cuộc sống.
Cuộc sống gắn bó với thiên nhiên làm nảy sinh những cảm xúc mĩ học. Người xưa đã biết say sưa ngắm  bầu trời đêm đầy sao, những lớp sóng bạc kì vĩ của  đại dương, đêm trăng huyền diệu  và rạng đông hồng tươi ấm áp lòng phấn khởi.

Trong sinh hoạt tinh thần thẩm mĩ, nhu cầu nghệ thuật cũng là đề tài phong phú hấp dẫn trong thần thoại. Tiếng đàn ngân nga thánh thót của Amphion khiến cho hòn đá xúc động tự chồng chất  lên xây thành lũy. Thần Apollon là tay đàn xitar hạng nhất luôn thắng trong mọi cuộc thi tài. Thần linh và con người cùng nhau thi tài nghệ thuật. Cây đàn liere của nghệ sĩ Orphee khiến cho thiên nhiên ngưng lặng lắng nghe, thú dữ phủ phục dưới chân chàng.
Ước mơ trẻ đẹp, sống bất tử cũng thể hiện bàng bạc trong những trang thần thoại. Họ ước ao có cây gậy thần kì với hai đầu “sống và chết» của thần Hermet. Họ cũng ước ao có thầy thuốc tài giỏi chữa bệnh cứu người.
Những trang văn miêu tả vẻ đẹp đầy chất thơ cảnh sinh hoạt thanh bình. Hoàng hậu Leda ngồi bên sông ngắm nhìn đàn thiên nga nô rỡn trên mặt nước. Nàng công chúa Europ mặc xiêm y đỏ thắm, tay cầm lẵng bằng vàng hái hoa hồng bên đám thiếu nữ đảo Crete xiêm áo trắng ngần vui đùa trên đám cỏ xanh.
Cái đẹp của thế giới đã được tái tạo qua trí tưởng tượng  và cảm xúc thẩm mĩ phong phú của người Hi Lạp  Họ suy tôn cái đẹp, ca ngợi hết lời cái đẹp. Câu chuyện  tranh chấp quả táo vàng  thực ra là tranh chấp danh hiệu người đẹp nhất – được coi là cuộc thi hoa hậu đầu tiên của loài người. .. Đối với dân tộc này, cái đẹp là tuyệt đối và trên hết .
Trong nghệ thuật sáng tạo thần thoại, trí tưởng tượng của người xưa đã tạo ra hình ảnh kì diệu về bản thân con người. Hình tượng thần Atlas, Heracles ghé vai đỡ cả bầu trời nói lên ý chí và sức mạnh tinh thần của con ngườ . Trí tưởng tượng của thần thoại  Hi Lạp đựa trên một trình độ tư duy rất cao  cùng với sự quan sát  thực tế chính xác tỉ mỉ.

“Không có thần thoại  Hi Lạp thì không có nghệ thuật  Hi Lạp” (nhận xét của Karl Marx). Bao nhiêu bức tượng và công trình kiến trúc và điêu khắc kì vĩ đã ra đời theo sau thần thoại. Thần thoại còn cung cấp đề tài cho hai thiên anh hùng ca- sử thi bất hủ Illiade và Odyssee, cho những bài thơ, nhũng vở bi kịch. . . Thần thoại  Hi Lạp còn chi phối cả quan điểm chính trị và đạo đức của thời cổ đại Hi Lạp.
Thần Thoại  Hi Lạp là chương đầu tiên của pho  lịch sử đất nước và dân tộc Hi Lạp – cũng là chương đầu của bộ lịch sử văn học nước này.
Đối với Phương Tây, ảnh hưởng của thần thoại Hi Lạp xuyên suốt và bao trùm mọi thời kì, mọi loại hình nghệ thuật  và sinh hoạt văn hóa.
Thần Thoại  Hi Lạp là kho điển tích vô tận cho mọi trào lưu văn học – nghệ thuật  châu Âu kể từ thời đại Phục Hưng về sau.
Câu hỏi ôn tập:
  1. Nhận xét  về gia đình thần thánh tối cao, ý nghĩa sự lựa chọn xây dựng nhân vật của tác giả dân gian.
  2.  Quan niệm nghệ thuật (âm nhạc) của người Hi Lạp cổ đã được thể hiện trong truyện danh ca Orphee như thế nào ?
  3. Thần thoại Hi Lạp là quá trình đi từ chủ nghĩa thần linh đến chủ nghĩa nhân văn cổ đại. Chứng minh .
³



 sưu tầm


( ko có sử thi của Home ở đây nhé , ;)) mình nghĩ ko thi vào =)) )